Luận văn thạc sĩ tác động của công tác thi đua khen thưởng đến động lực làm việc của người lao động tại chi cục thuế quận 7

Luận văn thạc sĩ phân tích tác động của công tác thi đua khen thưởng đến động lực làm việc của người lao động tại chi cục thuế, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế

2017

133
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THI ĐUA - KHEN THƯỞNG VÀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC

1.1. Các khái niệm nghiên cứu chính

1.2. Khái niệm động lực làm việc

1.3. Nghiên cứu trong nước

1.4. Mô hình nghiên cứu đề xuất ứng dụng cho Chi cục Thuế Quận 7

1.5. Thiết kế nghiên cứu

1.5.1. Mô tả dữ liệu

1.5.2. Thiết kế nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng

1.5.2.1. Nghiên cứu định tính
1.5.2.2. Nghiên cứu định lượng

1.6. TÓM TẮT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THI ĐUA - KHEN THƯỞNG TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN 7

2.1. Giới thiệu Chi cục Thuế Quận 7

2.2. Kết quả nghiên cứu và đánh giá thực trạng công tác thi đua - khen thưởng tại Chi cục Thuế Quận 7

2.3. Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo

2.4. Kết quả phân tích nhân tố khám phá

2.5. Phân tích EFA cho các biến độc lập

2.6. Phân tích EFA cho biến phụ thuộc

2.7. Kết quả kiểm định sự tác động các yếu tố lên động lực làm việc của người lao động Chi cục Thuế Quận 7

2.8. Phân tích thực trạng các yếu tố tác động đến động lực làm việc của người lao động Chi cục Thuế Quận 7

2.8.1. Thực trạng yếu tố Phần thưởng vật chất

2.8.2. Thực trạng yếu tố mục tiêu công việc

2.8.3. Phân tích thực trạng yếu tố ghi nhận và tuyên dương

2.8.4. Thực trạng yếu tố chính sách phát triển và thăng tiến

2.8.5. Đánh giá tổng quát về các yếu tố thành phần tác động lên động lực làm việc của người lao động

2.9. TÓM TẮT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP

3.1. Kiến nghị giải pháp cho yếu tố phần thưởng vật chất

3.2. Kiến nghị giải pháp cho yếu tố chính sách phát triển và thăng tiến

3.3. Kiến nghị giải pháp cho yếu tố mục tiêu công việc

3.4. Kiến nghị giải pháp cho yếu tố ghi nhận và tuyên dương

3.5. TÓM TẮT CHƯƠNG 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động thi đua khen thưởng đến động lực lao động

Thi đua khen thưởng là một trong những công cụ quan trọng trong quản lý nhân sự, đặc biệt trong các cơ quan hành chính nhà nước. Tác động của thi đua khen thưởng đến động lực lao động không chỉ thể hiện qua việc nâng cao hiệu suất làm việc mà còn ảnh hưởng đến tâm lý và sự gắn bó của nhân viên với tổ chức. Nghiên cứu này sẽ phân tích các khía cạnh khác nhau của thi đua khen thưởng và cách chúng tác động đến động lực làm việc của người lao động.

1.1. Khái niệm thi đua khen thưởng và động lực lao động

Thi đua khen thưởng được hiểu là các hoạt động nhằm khuyến khích, động viên người lao động thông qua việc công nhận và khen thưởng những thành tích xuất sắc. Động lực lao động là yếu tố thúc đẩy nhân viên làm việc hiệu quả hơn, thể hiện qua sự hài lòng và cam kết với công việc.

1.2. Mối liên hệ giữa thi đua khen thưởng và động lực lao động

Thi đua khen thưởng có thể tạo ra động lực tích cực cho người lao động, giúp họ cảm thấy được công nhận và đánh giá cao. Điều này không chỉ nâng cao hiệu suất làm việc mà còn tạo ra một môi trường làm việc tích cực, khuyến khích sự sáng tạo và cống hiến.

II. Vấn đề và thách thức trong công tác thi đua khen thưởng

Mặc dù thi đua khen thưởng có nhiều lợi ích, nhưng vẫn tồn tại nhiều vấn đề và thách thức trong việc triển khai hiệu quả. Các yếu tố như sự công bằng trong khen thưởng, cách thức đánh giá thành tích và sự minh bạch trong quy trình thi đua có thể ảnh hưởng đến động lực lao động.

2.1. Những vấn đề thường gặp trong thi đua khen thưởng

Nhiều tổ chức gặp khó khăn trong việc xác định tiêu chí khen thưởng rõ ràng và công bằng. Điều này có thể dẫn đến sự bất mãn và giảm động lực làm việc của nhân viên.

2.2. Thách thức trong việc duy trì động lực lao động

Sự cạnh tranh từ khu vực tư nhân và các yếu tố bên ngoài có thể làm giảm động lực làm việc của nhân viên trong khu vực công. Cần có các giải pháp hiệu quả để giữ chân nhân tài và nâng cao động lực làm việc.

III. Phương pháp thi đua khen thưởng hiệu quả

Để tối ưu hóa tác động của thi đua khen thưởng đến động lực lao động, cần áp dụng các phương pháp hiệu quả. Các phương pháp này không chỉ giúp nâng cao hiệu suất làm việc mà còn tạo ra một môi trường làm việc tích cực.

3.1. Xây dựng tiêu chí khen thưởng rõ ràng

Việc xác định tiêu chí khen thưởng rõ ràng và minh bạch sẽ giúp nhân viên hiểu rõ những gì họ cần đạt được để được công nhận. Điều này tạo động lực cho họ phấn đấu hơn trong công việc.

3.2. Tạo cơ hội phát triển cho nhân viên

Cung cấp các cơ hội đào tạo và phát triển nghề nghiệp sẽ giúp nhân viên cảm thấy được đầu tư và có động lực hơn trong công việc. Điều này cũng góp phần nâng cao hiệu suất làm việc.

IV. Ứng dụng thực tiễn của thi đua khen thưởng trong doanh nghiệp

Nghiên cứu thực tiễn cho thấy rằng các doanh nghiệp áp dụng hiệu quả công tác thi đua khen thưởng thường có động lực lao động cao hơn. Các chương trình khen thưởng được thiết kế hợp lý có thể tạo ra sự gắn bó và cam kết từ phía nhân viên.

4.1. Kết quả nghiên cứu tại Chi cục Thuế Quận 7

Nghiên cứu tại Chi cục Thuế Quận 7 cho thấy rằng việc áp dụng các chính sách thi đua khen thưởng đã giúp nâng cao động lực làm việc của nhân viên, từ đó cải thiện hiệu suất công việc.

4.2. Các mô hình thi đua khen thưởng thành công

Nhiều mô hình thi đua khen thưởng thành công đã được áp dụng tại các doanh nghiệp lớn, giúp tạo ra môi trường làm việc tích cực và khuyến khích sự cống hiến của nhân viên.

V. Kết luận và hướng phát triển trong tương lai

Tác động của thi đua khen thưởng đến động lực lao động là một vấn đề quan trọng cần được nghiên cứu và cải thiện liên tục. Các tổ chức cần chú trọng đến việc xây dựng các chính sách thi đua khen thưởng hợp lý để nâng cao động lực làm việc của nhân viên.

5.1. Tầm quan trọng của việc cải thiện thi đua khen thưởng

Cải thiện công tác thi đua khen thưởng không chỉ giúp nâng cao động lực làm việc mà còn tạo ra một môi trường làm việc tích cực, khuyến khích sự sáng tạo và cống hiến của nhân viên.

5.2. Định hướng phát triển trong tương lai

Các tổ chức cần tiếp tục nghiên cứu và áp dụng các phương pháp thi đua khen thưởng mới, phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội và nhu cầu của nhân viên.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ tác động của công tác thi đua khen thưởng đến động lực làm việc của người lao động tại chi cục thuế quận 7

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THI ĐUA - KHEN THƯỞNG VÀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC 1. Các khái niệm nghiên cứu chính 1. Khái niệm động lực làm việc Chủ đề về tạo ĐLLV đã được các nhà nghiên cứu xã hội học, chủ doanh nghiệp đặt nhiều mối quan tâm từ ngay sau khi cách mạng công nghiệp hóa bùng nỗ ở phương Tây. Thế nhưng, nghiên cứu ĐLLV trong các tổ chức công chỉ mới xuất hiện vào những năm đầu thập niên 60 của thế kỉ 20.

Trong suốt 2 thập kỉ (từ 1960 – 1980) ta có thể xem xét các khái niệm về động lực. Chaudhary & Sharma (2012) định nghĩa động lực bắt nguồn từ “motive”, ý nghĩa của từ motive là nhu cầu mong muốn và khát khao của một cá nhân, động lực là quá trình truyền cảm hứng cho mọi người thông qua các phần thưởng để họ có thể đạt được mục tiêu của họ. Theo Kirstein (2010) thì động lực làm việc là một tập hợp các yếu tố có nguồn gốc cả trong và bên ngoài cá thể, để bắt đầu hành vi liên quan đến công việc và xác định cấu trúc, hướng, cường độ và thời gian để hoàn thành mục tiêu. Động lực chính là thứ làm cho mọi người làm tốt nhất trong công việc đồng thời nó cũng là một trong những thách thức khó khăn nhất đối với các nhà quản lý muốn có nó để quản lý nhân viên.

Tầm quan trọng của sự hài lòng và động lực của nhân viên ngày càng trở nên quan trọng trong các doanh nghiệp. Theo Herzberg (1959), trong tác phẩm “The motivation to work” cho rằng động lực làm việc là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức. Bên cạnh kết quả nghiên cứu của Mathieu & Zajac (1990); Leong, S., et al (1994) (trích trong Bjorklund, 2001) lại cho thấy “sự thỏa mãn công việc” và “sự cam kết với tổ chức” có tương quan khá yếu với biến ĐLLV. Do vậy, trong nghiên cứu của Sjoberg và Lind (1994) (trích trong Bjorklund, 2001) đã đề xuất một TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 thang đo khác.

Theo đó, ĐLLV được định nghĩa là sự sẵn lòng làm việc (willingness to work), và được đo lường bởi 12 thang đo. Phương pháp đo lường này nhằm đánh giá xem người lao động sẵn lòng đến mức nào đối với công việc. Sự sẵn lòng làm việc có thể được phản ánh trong các hành động mang tính chất tự nguyện, hay tầm quan trọng của công việc đối với một người, sự háo hức trở lại công việc sau kỳ nghỉ…. Theo Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Văn Điềm (2007) trong giáo trình quản trị nhân sự đã định nghĩa: “Động lực làm việc là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tổ chức”.

Như vậy có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng tóm lại, động lực làm việc liên quan đến các thái độ hành vi của cá nhân. Nó bắt nguồn từ các nhu cầu nội tại khác nhau của cá nhân đó và thúc đẩy cá nhân hành động để thỏa mãn các nhu cầu này. Động lực làm việc cũng bao hàm năng lực, mục tiêu, sự cố gắng, sự lựa chọn, sự kiên trì và sức lực cần thiết của cá nhân trong quá trình lựa chọn, định hướng, tự thể hiện, thay đổi, kháng cự và liên tục của hành vi. Mặt khác, động lực làm việc có thể thay đổi bởi nó không chỉ phụ thuộc vào đặc điểm, kiến thức, kỹ năng và khả năng của cá nhân mà còn phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài như đặc điểm công việc, quan hệ xã hội, môi trường kinh tế - xã hội và đặc điểm của tổ chức nơi cá nhân đó làm việc.

Động lực làm việc của người lao động hành chính nhà nước (HCNN) Trên thực tế, khái niệm động lực làm việc của người lao động ở khu vực công lần đầu tiên được đề cập bởi Rainey vào những năm 1982 khi ông luận giải về sự khác biệt giữa động lực làm việc của người lao động ở khu vực công với các đối tượng lao động ở khu vực tư nhân. Tuy nhiên, mãi đến những năm 1990, Jame và Wise mới được coi là những học giả đầu tiên nghiên cứu sâu về động lực làm việc của lao động ở khu vực nhà nước và đưa ra một khái niệm tương đối rõ ràng. Trong một bài nghiên cứu về động lực dựa trên mức trả công cho người lao động trong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Chính phủ Liên bang Mỹ, hai học giả đã lý giải động lực làm việc của người lao động nhà nước chính là “khuynh hướng của cá nhân để đáp ứng đối với các yêu cầu cơ bản của tổ chức ở khu vực công nhằm hoàn thiện thể chế và tổ chức” (James L. Đi sâu vào nghiên cứu, phân tích và tìm hiểu khái niệm động lực của nhóm đối tượng đặc biệt - người lao động chính phủ, James L.R và nhiều nhà nghiên cứu khác đều đồng ý rằng động lực làm việc trong khu vực công liên quan đến “những niềm tin mạnh mẽ để thực hiện các công việc có ý nghĩa phục vụ cộng đồng và xã hội” (James L.p, & Annie H, 2008) của đội ngũ người lao động nhà nước và đây là yếu tố đặc biệt nhất tạo ra sự khác biệt căn bản trong động lực làm việc của người lao động HCNN, gắn liền với mục tiêu, ý nghĩa của các hoạt động công vụ nhà nước, cái mà khu vực tư không có được.

Đồng tình với quan điểm này, Kim & Wouter bổ sung thêm và định nghĩa động lực trong khu vực các tổ chức nhà nước của người lao động là “niềm tin, giá trị và thái độ vượt qua lợi ích mang tính cá nhân và tổ chức quan tâm đến lợi ích của một thực thể chính trị lớn hơn và nó thúc đẩy các cá nhân hành động theo bất cứ khi nào mà họ cảm thấy thích hợp” (Kim. Theo tác giả, động lực làm việc của người lao động HCNN chính là tinh thần, thái độ làm việc tích cực, hiệu quả dựa trên cơ sở niềm tin vào con đường, sự nghiệp mà mình lựa chọn, là lý tưởng sống và làm việc theo pháp luật, hết lòng phục vụ lợi ích của nhà nước, của nhân dân. Các biểu hiện động lực làm việc của người lao động HCNN Trong thực tiễn, động lực làm việc của người lao động nói chung, người lao động ở các cơ quan HCNN nói riêng được biểu hiện, phản ánh thông qua các dấu hiệu có thể nhận biết, đó chính là mức độ tham gia của người lao động vào công việc và mối quan tâm của họ đối với công việc, với nghề nghiệp. Đối với người lao động ở các cơ quan HCNN thì mức độ tham gia vào công việc có thể được đánh giá thông qua biểu hiện sử dụng thời gian hành chính để làm việc, mối quan tâm đối với TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 công việc được biểu hiện thông qua mức độ tin tưởng, sự gắn bó công việc mà cụ thể hơn là ở kết quả hoàn thành công việc được giao.

Một là, mức độ tin tưởng, sự gắn bó với công việc và tổ chức nhà nước của người lao động. Không giống như người lao động ở khu vực tư nhân, người lao động HCNN khi lựa chọn công tác ở các cơ quan HCNN là hướng đến các mục tiêu vì lợi ích chung của cộng đồng hoặc các giá trị xã hội mà họ mong muốn góp phần tạo ra thông qua thực hiện công vụ của mình. Do đó, mức độ tin tưởng và sự gắn bó của người lao động chính là niềm tin của họ vào các giá trị cao đẹp mà họ mong muốn cống hiến. Ngược lại, cũng chính điều này tạo nên sự gắn bó của họ với khu vực công.

Hai là, việc sử dụng thời gian làm việc của người lao động ở các cơ quan hành chính nhà nước. Do đặc thù của khu vực các cơ quan HCNN, đặc thù của quản lý nhân sự ở khu vực này, bên cạnh quản lý theo hiệu quả công việc thì cũng còn quản lý cả thời gian hành chính của người lao động phục vụ các dịch vụ công cho nhân dân. Do đó, khi đánh giá biểu hiện động lực của người lao động cũng có thể căn cứ vào việc người lao động sử dụng thời gian hành chính để hoàn thành công việc như thế nào, hoặc không sử dụng hết thời gian hành chính hoặc vẫn ngồi đủ thời gian hành chính nhưng làm các công việc ngoài nhiệm vụ hành chính được giao. Ba là, mức độ hoàn thành công việc chuyên môn của người lao động ở các cơ quan HCNN.

Đây chính là điểm cốt lõi để đánh giá động lực làm việc của người lao động HCNN. Suy cho cùng, mục tiêu của bất cứ tổ chức nào không phân biệt cơ quan HCNN hay khu vực tư nhân chính là hiệu suất lao động, năng suất lao động của người lao động hay người lao động thuộc tổ chức đó. Đối với người lao động HCNN, mức độ hoàn thành công việc chuyên môn là thước đo biểu hiện động lực của họ còn bởi đặc thù công vụ chính là phục vụ QLNN, phục vụ nhân dân. Nếu người lao động tin tưởng và gắn bó, vì mục tiêu xã hội, mục tiêu tốt đẹp của công vụ thì họ sẽ nỗ lực để làm tốt công việc được giao với kết quả cao nhất, qua đó góp phần khẳng định vị thế, uy tín của các cơ quan HCNN.

Ngược lại, nếu họ không TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 đam mê, gắn bó, tin tưởng, không tận tuỵ hoặc thiếu các kỹ năng cần thiết của người lao động HCNN thì họ sẽ không hoàn thành công việc được giao và như vậy, khó có thể nhận thấy động lực làm việc nơi họ. Sự cần thiết phải tạo động lực làm việc cho người lao động Chính vì động lực làm việc có ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả làm việc của tổ chức, nên vấn đề tạo động lực làm việc luôn được quan tâm ở bất cứ tổ chức nào. Đây được coi là một trong những chức năng quan trọng của nhà quản lý, là yếu tố mang tính quyết định hiệu quả làm việc và khả năng cạnh tranh của tổ chức, cho dù đó là tổ chức của nhà nước hay tổ chức tư nhân. Đối với bất cứ quốc gia nào, việc tạo động lực cho đội ngũ nhân viên cũng có tầm quan trọng đặc biệt, vì họ là bộ phận quan trọng quyết định đến hiệu lực, hiệu quả của bộ máy tổ chức.

Động lực có ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc của cá nhân và tổ chức.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ