Chương 1. Giới thiệu đề tài Chương này luận văn sẽ đưa ra các lý lo mà học viên lựa chọn nghiên cứu đề tài này, cũng như xác định mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu. Đồng thời luận văn trình bày dữ liệu và đối tượng nghiên cứu, và thể hiện mô hình nghiên cứu mà luận văn dự kiến nghiên cứu. Cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm Chương này luận văn sẽ đưa ra các cơ sở lý thuyết liên quan đến nợ công, tham nhũng, cũng như xác định mối quan hệ giữa tham nhũng và nợ công của các quốc gia.
Đồng thời luận văn trình bày các bằng chứng thực nghiệm trước đây có làm về nợ công và ảnh hưởng của tham nhũng đến nợ công. Phương pháp nghiên cứu Chương này luận văn sẽ trình bày việc lựa chọn các biến độc lập trong mô hình giải thích nợ công của quốc gia bằng cách phân tích các tác động của các yếu tố này đến nợ công. Đồng thời luận văn trình bày phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu mà luận văn áp dụng. Kết quả nghiên cứu Chương này luận văn sẽ thể hiện thống kê mô tả và ma trận tương quan của các biến có trong mô hình giải thích nợ công của quốc gia bằng cách phân tích các tác động của các yếu tố này đến nợ công.
Đồng thời luận văn trình bày kết quả kiểm tra tự tương quan và phương sai thay đổi từ đó lựa chọn phương pháp hồi quy phù hợp và tiến hành thảo luận kết quả đạt được. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Chương 5. Kết luận Chương này luận văn sẽ tổng hợp lại các kết quả đạt được khi giải thích nợ công của quốc gia. Đồng thời luận văn trình bày một số hàm ý chính sác từ các kết quả đạt được, cũng như nêu lên hạn chế và hướng mở rộng cho các đề tài sau này.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM 2. Nợ công Theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới (2002), nợ công được xem như là tổng nợ của chính phủ và các khoản nợ được chính phủ bảo lãnh. Đồng thời, Quỹ Tiền Tệ Quốc tế (2010) đã định nghĩa nợ công được hiểu như là nghĩa vụ trả nợ của khu vực công của một quốc gia.
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (2010) cũng đưa ra định nghĩa cụ thể cho khu vực công là bao gồm khu vực chính phủ và khu vực doanh nghiệp nhà nước. Trong đó, khu vực chính phủ bao gồm các đơn vị trực thuộc chính phủ hoặc các đơn vị do chính phủ giám sát và kiểm soát với mục đích cung cấp các hàng hóa và dịch vụ công cho quốc gia. Cụ thể khu vực này bao gồm chính phủ trung ương (Central Government), chính quyền địa phương (Local Government) hoặc chính quyền tiểu bang (State Government). Khu vực doanh nghiệp nhà nước thì bao gồm các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phi tài chính và, ngân hàng trung ương, và các doanh nghiệp/tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tài chính.
Tham nhũng Tham nhũng là một thuật ngữ được gọi là hành động cụ thể của một con người. Theo Otahal (2010), một đối tượng đang thực hiện tham nhũng bởi vì tham nhũng có thể mang đến cho anh ta/chị ta một số lợi ích, tiện ích nhất định. Theo Tổ chức Minh Bạch Quốc tế (Transparency International), tham nhũng được xem như là việc lạm dụng quyền lực được giao để thực hiện các hành vi mang lợi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 cho cá nhân. Bên cạnh đó, Ngân hàng thế giới thì lại định nghĩa tham nhũng như là việc lạm dụng quyền lực tại nơi công tác để đạt được lợi ích cá nhân.
Bên cạnh đó, tại Việt Nam, tham nhũng có thể được định nghĩa như là hành vi của một cá nhân/tổ chức có chức vụ và quyền lực hoặc được giao nhiệm vụ và quyền hạn nhưng lại lợi dụng chức vụ hoặc quyền lực được giao để đạt được lợi ích cá nhân (Tài liệu bồi dưỡng về phòng chống tham nhũng, dành cho Giảng viên các Trường Đại học, Cao đẳng, Trung Cấp). Hiện nay, có tương đối ít tổ chức thực hiện và đo lường tham nhũng của các quốc gia trên thế giới. Trong số các tổ chức này phải kể đến Ngân hàng Thế giới với bộ số liệu Chỉ tiêu Quản trị Thế giới, Tập Đoàn PRS với bộ Hướng dẫn Quốc tế về Rủi ro Quốc gia và Tổ chức Minh Bạch Quốc tế với bộ chỉ số nhận thức tham nhũng (Corruption Perception Index). Đầu tiên, kể từ năm 1995, Tổ chức Minh bạch Quốc tế đã công bố chỉ số nhận thức tham nhũng CPI.
Mỗi năm, chỉ số của Tổ chức Minh bạch Quốc tế sẽ cho thấy mức độ tham nhũng trong khu vực công của quốc gia đang là bao nhiêu và xếp hạng thứ bao nhiêu trong tổng số các quốc gia được công bố chỉ số nhận thức tham nhũng. Ví dụ như trong năm 2013, chỉ số nhận thức tham nhũng đã đo lường mức độ tham nhũng của khu vực công ở 177 quốc gia. Trong đó, giá trị của chỉ số nhận thức tham nhũng biến động từ 0 đến 100, với số điểm của chỉ số này bằng 0 thì đại diện cho mức độ tham nhũng rất cao. Ngân hàng Thế giới công bố bộ Chỉ tiêu Quản trị Thế giới WGI.
Theo đó, Ngân hàng Thế giới đã tóm tắt tình hình chất lượng thể chế của 212 quốc gia trên thế giới dựa vào 06 khía cạnh quản trị. Các khía cạnh này bao gồm tiếng nói và trách nhiệm giải trình, sự ổn định của chính trị, hiệu quả của chính phủ, chất lượng của các quy TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 định, nhà nước pháp quyền và kiểm soát tham nhũng. Trong đó các khía cạnh này biến động từ -2.5, cụ thể, với giá trị kiểm soát tham nhũng càng tiến về giá trị -2.5 càng cho thấy quốc gia đang có mức độ tham nhũng càng cao, ngược lại khi giá trị tiến về mức 2.5 thì cho thấy tham nhũng càng ít. Cuối cùng, được thành lập vào năm 1979, Tập đoàn PRS là một trong những nhà cung cấp các dự báo rủi ro chính trị và rủi ro quốc gia.
Trong đó, tập đoàn PRS đã công bố Bộ hướng dẫn Quốc tế về Rủi ro Quốc gia bao gồm 22 biến số khác nhau thuộc 03 danh mục rủi ro: rủi ro chính trị, rủi ro tài chính và rủi ro kinh tế. Theo đó, rủi ro chính trị biến động từ 0 đến 100 điểm, rủi ro tài chính biến động từ 0 đến 50 điểm và rủi ro kinh tế biến động từ 0 đến 50 điểm; với sự gia tăng điểm trong các thành phần này thì phản ánh được rằng quốc gia đang có rủi ro thấp và ngược lại sự suy giảm trong các thành phần sẽ cho thấy mức rủi ro của quốc gia đang gia tăng. Bên cạnh đó, chỉ số tham nhũng của ICRG thì dao động trong khoảng từ 0 đến 6 với mức gia tăng thì càng ít tham nhũng (Kotlanova và Kotlan, 2012) 2. Lý thuyết nợ công Lý thuyết lựa chọn công là một nhánh kinh tế phát triển từ nghiên cứu về thuế và chi tiêu công.
Lựa chọn công có cùng nguyên tắc mà các nhà kinh tế sử dụng để phân tích hành động của mọi người trên thị trường và áp dụng chúng trong việc ra quyết định nhóm (Buchanan, 1967). Các nhà kinh tế học hành vi trong thị trường tư nhân cho rằng con người được thúc đẩy chủ yếu bằng sự tư lợi. Mặc dù mọi người đa số hành động dựa trên mối quan tâm của họ đối với người khác, động lực chủ yếu trong hành động của mọi người trên thị trường cho dù họ là chủ lao động, người lao động hay người tiêu dùng là mối quan tâm cho bản thân họ (Buchanan và Tullock, 1962). Các nhà kinh tế nghiên cứu thuyết lựa chọn công đưa ra giả định tương tự rằng mặc dù những người hoạt động trong thị trường chính trị có những mối quan tâm dành TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 cho người khác, thì động cơ chính của họ, cho dù họ là cử tri, chính trị gia, những người vận động hành lang hay công chức là tư lợi.
Các nhà kinh tế nghiên cứu lý thuyết lựa chọn công chỉ ra rằng tồn tại một vấn đề là "sự thất bại của chính phủ". Đó là, có những lý do tại sao sự can thiệp của chính phủ không đạt được hiệu quả mong muốn. Một trong những nền tảng chính của lý thuyết lựa chọn công là thiếu các ưu đãi cho cử tri để theo dõi chính phủ một cách hiệu quả (Buchanan, 1967). Anthony Downs, trong một trong những cuốn sách nói về lựa chọn công sớm nhất, “Lý thuyết kinh tế dân chủ”, chỉ ra rằng cử tri phần lớn là không biết gì về các vấn đề chính trị và rằng sự thiếu hiểu biết này là hợp lý.
Mặc dù kết quả của cuộc bầu cử có thể rất quan trọng, nhưng phiếu bầu của một cá nhân hiếm khi quyết định một cuộc bầu cử (Buchanan và Tullock, 1962). Các nhà kinh tế nghiên cứu thuyết lựa chọn công chỉ ra rằng sự không biết về khuyến khích này là hiếm trong khu vực tư nhân. Các nhà kinh tế nghiên cứu lý thuyết lựa chọn công cũng kiểm tra hành động của các nhà lập pháp. Mặc dù các nhà lập pháp dự kiến sẽ theo đuổi "lợi ích công cộng", họ đưa ra quyết định về cách sử dụng các nguồn lực của người khác, chứ không phải của chính họ (Gordon, 2008).
Hơn nữa, những tài nguyên này phải được cung cấp bởi người nộp thuế và những người sẽ bị tổn thương bởi các quy định cho dù họ có muốn cung cấp cho họ hay không. Các chính trị gia có thể có ý định chi tiền một cách khôn ngoan. Tuy nhiên, các quyết định hiệu quả sẽ không tiết kiệm tiền riêng của họ và cũng không cung cấp cho họ bất kỳ phần nào của cải mà họ tiết kiệm được cho công dân. Không có phần thưởng trực tiếp để chống lại các nhóm lợi ích mạnh mẽ để trao lợi ích cho công chúng, những người mà thậm chí không nhận thức được lợi ích hoặc lợi ích từ những người đã trao cho họ (Buchanan, 1967).
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Ngoài lý thuyết lựa chọn công, lý thuyết động về chi tiêu công, thuế và nợ công cũng có thể giải thích sự thay đổi trong nợ công của quốc gia. Cụ thể lý thuyết này xây dựng trên phương pháp làm đẹp thuế nổi tiếng với chính sách tài khóa được tiên phong bởi Barro (1979). Cách tiếp cận này dự đoán rằng các chính phủ sẽ sử dụng thặng dư ngân sách và thâm hụt ngân sách như một bộ đệm để ngăn chặn thuế suất thay đổi quá mạnh (Battaglini và Coate, 2008).