CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN BCTC VÀ QTCT. Trong phần này tác giả trình bày các công trình nghiên cứu ở Việt Nam và thế giới với nội dung liên quan đến chất lượng thông tin BCTC và các yếu tố QTCT có tác động đến thông tin BCTC. Khi tìm hiểu về sự tương quan giữa QTCT đối với các thông tin BCTC, các nhà nghiên cứu đã tiếp cận các vấn đề theo nhiều hướng khác nhau: - Góc độ chất lượng thông tin BCTC: các tác giả quan tâm đến tính hữu ích, sự minh bạch, quản trị lợi nhuận, công bố lại BCTC, gian lận BCTC, công bố thông tin bao gồm thông tin bắt buộc và tự nguyện. - Góc độ QTCT: các nghiên cứu tập trung vào cơ cấu cũng như các thuộc tính liên quan đến HĐQT, Ban điều hành, UBKT, KTNB, Kiểm toán độc lập.1 Các nghiên cứu công bố trong nước (Phụ lục 1) 1.1 Chất lượng thông tin BCTC Thông tin BCTC là kết quả của quá trình lập, trình bày và công bố.
Hầu hết các nghiên cứu trong nước tập trung vào các khía cạnh khác nhau của thông tin BCTC theo nghĩa truyền thống.Vì vậy, luận án sẽ xem xét các nghiên cứu trong nước theo từng hoạt động của quá trình này.1 Quá trình tạo lập thông tin BCTC Quá trình tạo lập thông tin BCTC có thể tóm tắt từ việc ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh thông qua hệ thống xử lý nghiệp vụ của hệ thống kế toán, đảm bảo các nghiệp vụ ghi nhận phù hợp với các chuẩn mực kế toán hiện hành. Như vậy, thông tin BCTC có chất lượng phụ thuộc vào chất lượng của hệ thống xử lý thông tin kế toán và chất lượng của chuẩn mực kế toán ban hành. Các tác giả trong nước nghiên cứu đến quá trình tạo lập tiêu biểu có công trình như sau: Nguyễn Phúc Sinh (2008), trong luận án Tiến sĩ, bằng phương pháp nghiên cứu chủ yếu là tổng hợp, phân tích, so sánh, tác giả trình bày nền tảng, lý thuyết và thực tiễn quan điểm về tính hữu ích của BCTC của quốc tế và Việt nam để phân tích TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 đánh giá thực trạng cung cấp thông tin hữu ích cả BCTC doanh nghiệp Việt Nam, từ đó tác giả xây dựng và đề xuất các quan điểm và kiến nghị nhằm chuẩn hóa BCTC hiện hành (gồm 4 mẫu theo quy định) mà Bộ tài chính ban hành. Võ Văn Nhị và các cộng sự (2011), trong nghiên cứu đề tài cấp bộ, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu: phương pháp hệ thống, so sánh – đối chiếu, tổng hợp, phân tích và tiếp cận mục tiêu đã đánh giá thực trạng các quy định pháp lý liên quan về kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp Việt Nam như: luật kế toán, chuẩn mực và chế độ kế toán và đánh giá thực trạng tình hình thực hiện công tác kế toán của doanh nghiệp Việt Nam từ đó đưa ra các nguyên nhân tồn tại về hệ thống pháp lý cũng như quá trình thực hiện công tác kế toán của các doanh nghiệp.
Từ thực trạng đã phân tích, tác giả cho rằng để nâng cao chất lượng thông tin kế toán cần nâng cao chất lượng những nội dung có liên quan của hệ thống pháp lý về kế toán và nâng cao chất lượng công tác kế toán của doanh nghiệp. Nguyễn Bích Liên (2012), với đề tài trong luận án tiến sĩ “Xác định và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) tại các doanh nghiệp Việt Nam” tác giả cho rằng quan điểm của FASB, IASB và chuẩn mực kế toán Việt Nam đều cho rằng chất lượng thông tin kế toán đồng nghĩa với chất lượng BCTC. Tuy nhiên, quan điểm chất lượng thông tin của tác giả trong môi trường công nghệ thông tin được xác định bởi các tiêu chuẩn: hữu hiệu, hiệu quả, bảo mật, toàn vẹn, sẵn sàng, tuân thủ và đáng tin cậy. Các tiêu chuẩn liên quan gắn với các chuẩn mực kế toán nằm ngoài phạm vi nghiên cứu luận án của tác giả.
Nghiên cứu của tác giả chủ yếu tập trung vào năng lực ứng dụng công nghệ thông tin cho quy trình xử lý các thông tin kế toán và chất lượng thông tin kế toán phụ thuộc vào ứng dụng hệ thống thông tin này.2 Quá trình trình bày và công bố thông tin TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Liên quan đến quá trình trình bày và công bố thông tin, các tác giả nghiên cứu tập trung về những lĩnh vực như sự minh bạch, hình thức và nội dung thông tin công bố, đại diện các nghiên cứu này như: Nguyễn Thị Hồng Oanh (2008), trong luận văn thạc sĩ, tác giả khảo sát thực tế thông qua các nhà đầu tư về những thông tin trên BCTC mà nhà đầu tư quan tâm, qua đó tác giả xác định khả năng thỏa mãn của nhà đầu tư khi sử dụng các thông tin này. Từ đó tác giả kết luận, vấn đề trình bày và công bố thông tin BCTC của các công ty niêm yết chưa thật sự hữu ích đối với các nhà đầu tư như: thiếu thông tin, việc tính toán các số liệu tài chính khó khăn, tiếp cận thông tin khó khăn và công bố chưa kịp thời. Thông qua những yếu kém đã phân tích, tác giả đề xuất nhằm hoàn thiện việc trình bày và công bố thông tin BCTC của các công ty niêm yết tại SGDCK TPHCM. Lê Thị Tú Oanh (2012), trong luận án tiến sĩ, tác giả bằng phương pháp phân tích, tổng hợp qua khảo sát và xem xét 40 Báo cáo thường niên của các công ty niêm yết tại Việt nam, cùng với các đánh giá từ phía người sử dụng là các nhà đầu tư, các chuyên gia và từ phía doanh nghiệp là người lập Báo cáo thường niên nhằm đánh giá những ưu, nhược điểm của báo cáo thường niên mà các công ty niêm yết tại Việt nam đang thực hiện.
Trên cơ sở đó, luận án đã đề ra những kiến nghị liên quan nhằm chuẩn hóa báo cáo thường niên như: hình thức, nội dung báo cáo; số lượng báo cáo bộ phận, thời gian và cách thức công bố. Tác giả đã đề xuất mẫu Báo cáo thường niên nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch, rõ ràng, dễ hiểu, đầy đủ và kịp thời trong công bố thông tin. Nguyễn Đình Hùng (2010), trong luận án Tiến sĩ, tác giả xác định sự minh bạch thông tin tài chính có thể xem là sự sẵn có của các thông tin tài chính cho người sử dụng và nó được thể hiện qua các đặc tính: sự kịp thời, sự thuận tiện, sự chính xác, sự đầy đủ và sự nhất quán. Tác giả xác định 6 yếu tố kiểm soát sự minh bạch: Hệ thống chuẩn mực kế toán, quy định liên quan đến công bố báo cáo tài chính, Hệ thống kiểm soát nội bộ, Ban Giám đốc, Kiểm toán độc lập và Ban kiểm soát.
Từ việc khảo sát sự tác động 6 yếu tố này đến các đặc tính của sự minh bạch TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 các công ty niêm yết tại Việt nam, tác giả đưa ra những kiến nghị liên quan đến 6 yếu tố để tăng cường sự minh bạch thông tin tài chính các công ty niêm yết tại Việt nam. Ngoài ra, năm 2011 trong bài viết của tác giả Đặng Thị Thúy Hằng, tác giả quan tâm đến công bố thông tin ở một góc độ khác về công bố thông tin kế toán. Tác giả xem xét thông tin mà doanh nghiệp công bố dưới hai góc độ thông tin bắt buộc và thông tin tự nguyện. Tác giả đánh giá thực trạng công bố thông tin kế toán các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam thông qua các yếu tố như: tính kịp thời, sử dụng giá trị hiện tại trong kế toán, chênh lệch lợi nhuận trước và sau kiểm toán và công bố các thông tin tự nguyện.
Tác giả cho rằng những yếu tố trên đã làm hạn chế chất lượng thông tin kế toán và đã đưa ra những kiến nghị có liên quan nhằm nâng cao chất lượng thông tin kế toán 1.2 Tác động QTCT đến chất lượng thông tin BCTC Tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam có ít đề tài nghiên cứu sự tương quan giữa chất lượng thông tin BCTC và QTCT, mà chỉ có những nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau liên quan đến BCTC và QTCT, điển hình có các nghiên cứu sau: Trần Thị Xuân Mai (2011) và Nguyễn Thị Thúy Hằng (2012), trong Luận văn Thạc sĩ, hai tác giả nghiên cứu mối tương quan giữa cơ chế quản trị công ty và tỷ lệ sở hữu vốn tác động đến hiệu quả kinh doanh của các công ty niêm yết tại Việt Nam. Cả hai luận văn đều sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm bằng mô hình hồi quy đa biến xem xét các yếu tố quản trị như: quy mô doanh nghiệp, cơ cấu HĐQT, tỷ lệ sở hữu vốn… tác động vào các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh như ROA, ROE. Các nghiên cứu này đều đưa ra kết luận các yếu tố quản trị công ty có tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Năm 2013, tác giả Hà Thị Đoan Trang trong bài viết “QTCT và vấn đề bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán”, dựa vào kết quả của thẻ điểm QTCT của Tổ chức Tài chính Quốc tế (được thiết kế dựa trên 5 tiêu chí là: quyền cổ đông; đối xử bình đẳng với cổ đông; vai trò của các bên liên quan; minh bạch và công bố thông tin; trách TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 nhiệm của HĐQT) công bố ngày 22/11/2012 trên cơ sở khảo sát 100 công ty hàng đầu đang niêm yết trên 2 Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam cho thấy QTCT tại Việt Nam đạt kết quả thấp, tác giả đã phân tích và đưa ra những nguyên nhân của tình trạng trên, chủ yếu là tính độc lập của HĐQT thấp, từ đó tác giả đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao tính độc lập của HĐQT.
Năm 2009, tác giả Võ Văn Nhị và Nguyễn Đình Hùng trong bài viết “Quản trị công ty và sự minh bạch thông tin tài chính của công ty niêm yết” đã tóm tắt những nghiên cứu về sự tác động của QTCT và tính minh bạch của thông tin tài chính, từ đó tác giả đưa ra mô hình lý thuyết về mối tương quan giữa QTCT và sự minh bạch thông tin tài chính. Bên cạnh đó, tác giả đã phân tích thực trạng những tồn tại về QTCT tại Việt Nam như: QTCT chưa thực hiện đồng bộ giữa các doanh nghiệp, thông tin thiếu tính minh bạch, từ đó tác giả đã đề xuất nhưng giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả QTCT của các công ty niêm yết.