Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Kế toán (mã ngành: 62.01) mang tên "Tác động của quản trị công ty đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết ở Việt Nam" được nghiên cứu sinh Nguyễn Trọng Nguyên thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Hà Xuân Thạch và TS. Huỳnh Đức Lộng tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (năm 2015).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Thông tin báo cáo tài chính (BCTC) là một trong những kênh thông tin bắt buộc mà các công ty niêm yết phải cung cấp trên thị trường chứng khoán nhằm đảm bảo tính hiệu quả của thị trường tài chính. Trong quan hệ thị trường, công ty niêm yết là bên cung ứng thông tin, còn nhà đầu tư là đối tượng tiếp nhận và sử dụng thông tin để đưa ra các quyết định kinh tế. Tuy nhiên, thực tế tồn tại một khoảng cách đáng kể giữa kỳ vọng của người sử dụng và chất lượng thông tin được công bố. Quá trình tạo lập, trình bày và công bố BCTC chịu sự chi phối từ nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, trong đó quản trị công ty (QTCT) đóng vai trò kiểm soát then chốt.

Hầu hết các nghiên cứu quốc tế trước đây đo lường chất lượng BCTC một cách gián tiếp qua các hành vi như quản trị lợi nhuận, công bố lại BCTC hoặc gian lận BCTC, chủ yếu tập trung vào dữ liệu tài chính thuần túy. Trong khi đó, nhu cầu thông tin hiện nay mở rộng sang cả các thông tin phi tài chính, báo cáo phân tích của nhà quản lý và các công bố tự nguyện. Tại Việt Nam, hệ thống văn bản pháp lý liên quan đến QTCT và công bố thông tin (như Luật Doanh nghiệp 2005, Thông tư 121/2012/TT-BTC, Thông tư 52/2012/TT-BTC) đã được ban hành nhưng mang tính chất định hướng, dẫn đến sự khác biệt lớn trong thực thi giữa các doanh nghiệp. Tác giả xác định khoảng trống nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam là chưa có công trình nào đo lường chất lượng thông tin BCTC một cách toàn diện theo định hướng hữu ích cho người ra quyết định và đánh giá mối quan hệ tác động của các cơ chế QTCT nội bộ đối với chất lượng này.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là tập trung nghiên cứu sự tác động của các đặc tính QTCT đến chất lượng thông tin BCTC của công ty niêm yết tại Việt Nam, từ đó đề xuất các kiến nghị tăng cường QTCT nhằm nâng cao chất lượng thông tin BCTC.

Để đạt được mục tiêu tổng quát, luận án xác định ba mục tiêu cụ thể:

  1. Xác định các thuộc tính đo lường chất lượng thông tin BCTC của các công ty niêm yết tại Việt Nam.
  2. Xác định các yếu tố QTCT tác động đến chất lượng thông tin BCTC.
  3. Đánh giá thực trạng chất lượng thông tin BCTC và sự tác động của QTCT đến chất lượng thông tin BCTC của các công ty niêm yết tại Việt Nam để đưa ra những kiến nghị về tăng cường QTCT và nâng cao chất lượng thông tin BCTC.

Câu hỏi nghiên cứu

Luận án đặt ra ba câu hỏi nghiên cứu tương ứng:

  • Câu hỏi 1: Chất lượng thông tin BCTC các công ty niêm yết tại Việt Nam được đánh giá ở mức độ nào?
  • Câu hỏi 2: Các yếu tố QTCT tác động như thế nào đến chất lượng thông tin BCTC các công ty niêm yết tại Việt Nam?
  • Câu hỏi 3: Định hướng nào để tăng cường QTCT qua đó nâng cao chất lượng thông tin BCTC tại các công ty niêm yết ở Việt Nam?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng thông tin BCTC và sự tác động của QTCT đến chất lượng thông tin BCTC.
  • Phạm vi khảo sát: Thông tin BCTC và các đặc tính QTCT của các công ty niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX).
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu năm tài chính 2012.
  • Phạm vi nội dung: Thông tin BCTC được hiểu theo nghĩa rộng, hướng đến tính hữu ích cho việc ra quyết định, bao gồm thông tin tài chính, thông tin phi tài chính, thông tin công bố bắt buộc và tự nguyện trong Báo cáo thường niên (BCTN). Các yếu tố QTCT được giới hạn trong phạm vi cơ cấu quản trị nội bộ gồm: Hội đồng quản trị (HĐQT), Ban kiểm soát (BKS) và Kiểm toán nội bộ (KTNB).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trong nước

Luận án tổng hợp các công trình nghiên cứu trong nước theo ba nhóm trọng tâm:

  1. Nghiên cứu về quá trình tạo lập thông tin BCTC:
    • Nguyễn Phúc Sinh (2008) phân tích quan điểm quốc tế và Việt Nam về tính hữu ích của BCTC để đánh giá thực trạng và đề xuất chuẩn hóa hệ thống BCTC mẫu do Bộ Tài chính ban hành.
    • Võ Văn Nhị và cộng sự (2011) nghiên cứu đề tài cấp bộ, đánh giá thực trạng hệ thống pháp lý kế toán (Luật Kế toán, chuẩn mực, chế độ kế toán) và thực trạng thực hiện công tác kế toán của doanh nghiệp Việt Nam nhằm chỉ ra các nguyên nhân tồn tại.
    • Nguyễn Bích Liên (2012) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) dựa trên các tiêu chuẩn: hữu hiệu, hiệu quả, bảo mật, toàn vẹn, sẵn sàng, tuân thủ và đáng tin cậy.
  2. Nghiên cứu về quá trình trình bày và công bố thông tin:
    • Nguyễn Thị Hồng Oanh (2008) khảo sát mức độ thỏa mãn của nhà đầu tư tại SGDCK TP.HCM đối với thông tin BCTC, chỉ ra các hạn chế về thiếu thông tin, khó tiếp cận và công bố chưa kịp thời.
    • Lê Thị Tú Oanh (2012) khảo sát 40 Báo cáo thường niên của các công ty niêm yết và lấy ý kiến nhà đầu tư, chuyên gia để đề xuất mô hình Báo cáo thường niên chuẩn hóa.
    • Nguyễn Đình Hùng (2010) xác định 6 yếu tố kiểm soát sự minh bạch thông tin tài chính gồm: Chuẩn mực kế toán, Quy định công bố BCTC, Hệ thống kiểm soát nội bộ, Ban Giám đốc, Kiểm toán độc lập và Ban kiểm soát.
    • Đặng Thị Thúy Hằng (2011) khảo sát thực trạng công bố thông tin bắt buộc và tự nguyện, tính kịp thời, sử dụng giá trị hiện tại và chênh lệch lợi nhuận trước - sau kiểm toán.
  3. Nghiên cứu về mối quan hệ giữa QTCT và thông tin tài chính/hiệu quả hoạt động:
    • Trần Thị Xuân Mai (2011) và Nguyễn Thị Thúy Hằng (2012) sử dụng mô hình hồi quy đa biến để đánh giá mối quan hệ giữa cơ chế QTCT, tỷ lệ sở hữu vốn và hiệu quả kinh doanh (ROA, ROE).
    • Hà Thị Đoan Trang (2013) sử dụng kết quả thẻ điểm QTCT của Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) công bố năm 2012 trên 100 công ty niêm yết để phân tích tính độc lập thấp của HĐQT tại Việt Nam.
    • Võ Văn Nhị và Nguyễn Đình Hùng (2009) xây dựng mô hình lý thuyết về mối quan hệ giữa QTCT và tính minh bạch của thông tin tài chính.

Các hướng nghiên cứu ngoài nước

Tác giả hệ thống hóa các nghiên cứu quốc tế theo các nhóm nội dung:

  1. Đo lường chất lượng BCTC qua các chỉ báo gián tiếp:
    • Quản trị lợi nhuận (Earning Management): Đo lường qua chỉ tiêu dồn tích linh hoạt (discretionary accruals) theo mô hình Jones (1991), Schipper và Vincent (2003), Cohen (2004), Leila Hussein Amer và Naser Abdelkarim (2012), Xie B. (2001), M. Awais Gulzar (2011).
    • Công bố lại BCTC (Financial Restatement): Huang Zhizhong và Zhang Juan (2011), Sandeep Nabar và cộng sự (2007), Abbott, Parker, Peter (2004), Anup Agrawal và Sahiba Chadha (2004).
    • Gian lận BCTC (Financial Statement Fraud): David B. Farber (2004) khảo sát 87 công ty gian lận BCTC theo công bố của SEC giai đoạn 1982-2000 (phát hiện 60% liên quan giao dịch giả, 36% chênh lệch thời gian doanh thu - chi phí, 4% gian lận khác); Nadia Smaili và Réal Labelle (2009) khảo sát 107 công ty tại Canada; Persons (2006).
  2. Đo lường chất lượng BCTC qua mức độ công bố thông tin:
    • Công bố bắt buộc: Ali, Ahmed và Henry (2004) khảo sát 566 công ty tại Ấn Độ, Pakistan và Bangladesh dựa trên danh mục 131 nội dung của 14 chuẩn mực kế toán.
    • Công bố tự nguyện: Watson, Shrives và Marston (2002); Bader Al-Shammari và Waleed Al-Sultan (2010) với danh mục 76 khoản mục trên 170 công ty tại Kuwait; Jouini Fathi (2013) với 71 yếu tố trên 52 công ty tại Tunisia; Eugene C. Courtenay (2006) với 72 tiêu chí trên 104 công ty tại Singapore; Xiao, Yang và Chow (2004) trên 300 công ty Trung Quốc.
  3. Đo lường chất lượng BCTC theo khung lý thuyết của FASB và IASB:
    • Maines (2003) nghiên cứu đặc tính đáng tin cậy.
    • Davood Khodadady (2012) sử dụng thang đo Likert 5 điểm đo lường 14 thuộc tính của đặc tính thích hợp (10 thuộc tính dự báo, 4 thuộc tính xác nhận) trên 49 ngân hàng tại Ấn Độ.
    • Jonas và Blanchet (2000) xây dựng các thuộc tính cho 11 đặc tính chất lượng của FASB.
    • Ferdy van Beest và Geert Braam (2009, 2013) phát triển bộ công cụ "hoạt động hóa" (operationalize) gồm 21 thuộc tính (năm 2009) và 33 thuộc tính (năm 2013) để đo lường 5 đặc tính chất lượng (thích hợp, trình bày trung thực, có thể so sánh, có thể hiểu được, kịp thời) trên dữ liệu Báo cáo thường niên tại Mỹ, Anh và Hà Lan.
    • Lyle N. (2008) khảo sát chuỗi cung ứng BCTC với 341 người tham gia và phỏng vấn sâu 25 chuyên gia.
  4. Tác động của các yếu tố QTCT nội bộ đến chất lượng BCTC:
    • Hội đồng quản trị: Nghiên cứu về quy mô HĐQT (Al-Shammari & Al-Sultan 2010, Persons 2006, Gulzar 2011), tỷ lệ thành viên độc lập (Huang & Zhang 2011, Alzoubi 2012, Moradi et al. 2012, Agrawal & Chadha 2004, Courtenay 2006), kiêm nhiệm Chủ tịch và Tổng Giám đốc (Sidney Leung 2004, Jouini Fathi 2013, Smaili & Labelle 2009), chuyên môn kế toán tài chính (Xie et al. 2001, Wan Ismail et al. 2010), tần suất cuộc họp HĐQT (Xie et al. 2001, Gulzar 2011).
    • Ủy ban kiểm toán / Ban kiểm soát: Sự hiện diện của UBKT (Gulzar 2011, Huang & Zhang 2011), tính độc lập và chuyên môn của UBKT (DeZoort et al. 2002, Rusmin 2011, Wan-Hussin 2009, Abbott et al. 2004, Felo et al. 2003, Yan Zhang et al. 2006).
    • Kiểm toán nội bộ: Lin và cộng sự (2010), Johl (2013), Ryan Davidsona và cộng sự (2005).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

  1. Các nghiên cứu ngoài nước đã kiểm định thực nghiệm tác động của QTCT đến BCTC nhưng chủ yếu tập trung vào các khía cạnh riêng lẻ (quản trị lợi nhuận, gian lận, công bố lại hoặc công bố tự nguyện), trong khi tại Việt Nam chưa có nghiên cứu chính thống nào đánh giá toàn diện mối quan hệ này.
  2. Các nghiên cứu về chất lượng BCTC tại Việt Nam trước đây chủ yếu sử dụng phương pháp định tính để đánh giá quy trình và chuẩn mực kế toán, chưa có công trình nào đo lường chất lượng thông tin BCTC theo định hướng tính hữu ích cho người ra quyết định dựa trên khung đặc tính chất lượng của FASB và IASB với mẫu dữ liệu lớn.
  3. Luận án kết hợp phương pháp định lượng và định tính nhằm xây dựng bộ thang đo chất lượng BCTC phù hợp với bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam, đồng thời kiểm định tác động của các cấu phần QTCT nội bộ (HĐQT, BKS, KTNB) cùng các biến điều tiết (quy mô công ty, vốn nhà nước).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết nền tảng

Luận án sử dụng 4 lý thuyết nền tảng làm khung phân tích:

  1. Lý thuyết thông tin hữu ích (Decision Usefulness Theory): Ra đời từ những năm 1960 và phát triển mạnh tại Mỹ từ năm 1973, dịch chuyển trọng tâm từ phương pháp kế toán chuẩn tắc sang kế toán thực chứng và tính hữu ích của thông tin đối với việc ra quyết định của người sử dụng (Nguyễn Hữu Ánh 2013, Deegan & Unerman 2006). Luận án vận dụng lý thuyết này để xác định rằng BCTC không chỉ cung cấp thông tin tài chính bắt buộc mà cần công bố cả thông tin phi tài chính và diễn giải tự nguyện trong BCTN.
  2. Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information Theory): Dựa trên nền tảng của Akerlof (1970) về lựa chọn bất lợi và tâm lý ỷ lại; Michael Spence (1973) về cơ chế phát tín hiệu; Joseph Stiglitz (1975) về cơ chế sàng lọc; và Yang Jing (2008) về ba dạng bất cân xứng trên thị trường chứng khoán (thời gian, khối lượng, chất lượng). Vận dụng: Ban điều hành nắm giữ nhiều thông tin hơn nhà đầu tư; việc thiết lập cơ chế giám sát và công bố thông tin trung thực, kịp thời là giải pháp giảm thiểu bất cân xứng thông tin.
  3. Lý thuyết ủy nhiệm (Agency Theory): Theo Jensen và Meckling (1976), Dalton và cộng sự (2007), Gayle và Miller (2009), Tuggle và cộng sự (2010), Miller và Sardais (2011), Nicholson và Kiel (2007), Epstein và Roy (2010). Lý thuyết giải thích sự tách biệt giữa quyền sở hữu (cổ đông - bên ủy nhiệm) và quyền quản lý (nhà điều hành - bên đại diện), làm phát sinh xung đột lợi ích và chi phí ủy nhiệm (chi phí giám sát, chi phí ràng buộc, tổn thất phụ trội). Vận dụng: Cơ chế QTCT (HĐQT, BKS, KTNB) cần được thiết lập độc lập và có năng lực chuyên môn để giám sát nhà quản lý, hạn chế hành vi bóp méo BCTC.
  4. Lý thuyết hành vi trong quản lý: Thuyết bản chất con người X và Y của Douglas McGregor và Thuyết quyết sách quản lý 4 giai đoạn của Herbert Simon. Vận dụng: Do xung đột lợi ích và tâm lý ỷ lại, nhà quản lý có xu hướng có hành vi tiêu cực trong việc lập BCTC; doanh nghiệp cần thiết lập cơ cấu kiểm soát với quyền hạn, trách nhiệm rõ ràng để định hướng và giám sát hành vi của nhà quản trị.

Khung nghiên cứu và hệ thống biến

Mô hình nghiên cứu phân tích tác động của các yếu tố QTCT nội bộ đến chất lượng thông tin BCTC, cùng sự can thiệp của các biến điều tiết:

Nhóm biến Tên biến / Thuộc tính Diễn giải đo lường theo văn bản
Biến phụ thuộc Chất lượng thông tin BCTC Đo lường tổng hợp qua 5 đặc tính (FASB/IASB 2010): Thích hợp, Trình bày trung thực, Có thể hiểu được, Có thể so sánh, Kịp thời
Biến độc lập (QTCT) Tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập Tỷ lệ số thành viên độc lập trên tổng số thành viên HĐQT
Kiêm nhiệm Chủ tịch HĐQT và TGĐ Biến giả (1 nếu kiêm nhiệm, 0 nếu tách rời hai chức danh)
Thành viên HĐQTĐL có chuyên môn KTTC Sự hiện diện của chuyên gia kế toán tài chính trong số các thành viên HĐQT độc lập
Tần suất cuộc họp HĐQT Số lượng cuộc họp HĐQT được tổ chức trong năm tài chính
Tính độc lập của Ban kiểm soát Tỷ lệ thành viên độc lập trong Ban kiểm soát
Chuyên môn KTTC của Ban kiểm soát Số lượng/sự hiện diện thành viên BKS có trình độ, chuyên môn kế toán tài chính
Sự hiện diện của Kiểm toán nội bộ Biến giả (1 nếu có bộ phận KTNB trong cơ cấu, 0 nếu không có)
Biến điều tiết Quy mô công ty (QMCT) Phân nhóm quy mô tài sản/vốn của doanh nghiệp (sử dụng biến giả)
Vốn nhà nước (VNN) Tỷ lệ sở hữu vốn của Nhà nước trong doanh nghiệp

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp hỗn hợp gắn kết và giải thích:

  • Phương pháp định tính: Thực hiện qua 2 bước phỏng vấn chuyên gia. Bước 1 phỏng vấn chuyên gia nhằm khẳng định và hiệu chỉnh hệ thống thang đo chất lượng thông tin BCTC phù hợp với môi trường pháp lý và thực tiễn Việt Nam. Bước 2 phỏng vấn chuyên gia về QTCT để giải thích các kết quả hồi quy thực nghiệm.
  • Phương pháp định lượng:
    • Thu thập dữ liệu từ BCTC, BCTN năm 2012 của các công ty niêm yết tại HOSE và HNX;
    • Thực hiện phương pháp cho điểm chất lượng BCTC theo thang đo Likert;
    • Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha;
    • Đánh giá giá trị thang đo qua phân tích nhân tố khám phá (EFA);
    • Ước lượng mô hình hồi quy OLS, kiểm định ANOVA;
    • Kiểm định các khuyết tật mô hình: Đa cộng tuyến (hệ số VIF), kiểm định tính độc lập của sai số (tự tương quan phần dư), kiểm định phân phối chuẩn phần dư, kiểm định liên hệ tuyến tính;
    • Phân tích phương sai ANOVA để đánh giá sự khác biệt và tác động của các biến điều tiết (QMCT, VNN);
    • Ước lượng mô hình hồi quy riêng cho hai đặc tính chất lượng cơ bản (Thích hợp và Trình bày trung thực).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu chất lượng thông tin BCTC và QTCT

Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu trong nước và quốc tế về chất lượng thông tin BCTC và QTCT. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu tại Việt Nam (Nguyễn Phúc Sinh 2008, Võ Văn Nhị 2011, Nguyễn Bích Liên 2012, Lê Thị Tú Oanh 2012, Nguyễn Đình Hùng 2010...) chủ yếu tiếp cận theo hướng hoàn thiện quy trình kế toán, chuẩn hóa biểu mẫu hoặc khảo sát định tính về tính minh bạch. Trong khi đó, các nghiên cứu quốc tế (Jones 1991, Farber 2004, Ali et al. 2004, Ferdy van Beest & Geert Braam 2009, 2013, Fama & Jensen 1983, DeZoort et al. 2002...) đã phát triển nhiều phương pháp định lượng để đo lường chất lượng BCTC và kiểm định tác động của các đặc tính QTCT. Chương 1 kết luận bằng việc xác định ba khoảng trống nghiên cứu lớn tại Việt Nam về đo lường thực nghiệm chất lượng BCTC toàn diện và đánh giá tác động của QTCT nội bộ.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết về chất lượng thông tin BCTC và QTCT

Chương 2 trình bày chi tiết nội dung và sự vận dụng của 4 lý thuyết nền tảng: Lý thuyết thông tin hữu ích, Lý thuyết thông tin bất cân xứng, Lý thuyết ủy nhiệm và Lý thuyết hành vi quản lý. Tác giả phân tích khái niệm thông tin BCTC theo quan điểm của IASB (2010) và FASB (2010), mở rộng khái niệm sang các thông tin phi tài chính và công bố tự nguyện. Chương này phân tích cơ cấu QTCT (theo quan điểm Rezaee 2003) và các chức năng kiểm soát nội bộ (HĐQT, BKS, KTNB) nhằm kiểm soát chất lượng thông tin BCTC, từ đó thiết lập mô hình lý thuyết nghiên cứu và khung phân tích cho luận án.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 xây dựng thiết kế nghiên cứu chi tiết:

  • Thiết lập khung nghiên cứu hỗn hợp gắn kết và giải thích.
  • Xây dựng 5 thang đo đặc tính chất lượng BCTC gồm 2 đặc tính cơ bản (Thích hợp, Trình bày trung thực) và 3 đặc tính bổ sung (Dễ hiểu, Có thể so sánh, Kịp thời).
  • Xây dựng 7 giả thuyết nghiên cứu về tác động của các yếu tố QTCT (tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập, kiêm nhiệm chức danh, chuyên môn kế toán của HĐQT, số lượng cuộc họp HĐQT, tính độc lập BKS, chuyên môn BKS, sự hiện diện KTNB) và các giả thuyết về biến điều tiết QMCT, VNN.
  • Mô tả quy trình thu thập dữ liệu và phương pháp cho điểm BCTC năm 2012 của các công ty niêm yết tại HOSE và HNX.
  • Trình bày kết quả kiểm định thang đo:
    • Đánh giá độ tin cậy bằng Cronbach's Alpha cho từng thang đo thành phần (Bảng 3.3: Thích hợp; Bảng 3.4 và 3.5: Trình bày trung thực; Bảng 3.6: Có thể hiểu được; Bảng 3.7 và 3.8: Có thể so sánh);
    • Đánh giá giá trị thang đo qua EFA (Bảng 3.10: Kiểm định điều kiện EFA; Bảng 3.11a: Nhân tố và phương sai trích; Bảng 3.11b: Trọng số nhân tố);
    • Trình bày quy trình kiểm định hồi quy OLS (Bảng 3.12a, 3.12b), kiểm định đa cộng tuyến (Bảng 3.13), kiểm định tự tương quan phần dư (Bảng 3.14), biểu đồ phân phối chuẩn phần dư (Hình 3.7) và đồ thị phân tán phần dư (Hình 3.8);
    • Mô tả phương pháp định tính phỏng vấn chuyên gia 2 bước.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Chương 4 công bố các kết quả phân tích thống kê và kiểm định thực nghiệm:

  • Thống kê mô tả chất lượng thông tin BCTC: Đánh giá tổng hợp dữ liệu chất lượng (Bảng 4.1) và phân loại chất lượng BCTC (Bảng 4.2); phân tích chi tiết điểm số từng đặc tính: Thích hợp (Bảng 4.3), Trình bày trung thực (Bảng 4.4), Có thể hiểu được (Bảng 4.5), Có thể so sánh (Bảng 4.6), Kịp thời (Bảng 4.7).
  • Kiểm định tác động của các yếu tố QTCT: Kết quả phân tích hồi quy các biến độc lập QTCT tác động đến biến phụ thuộc tổng hợp chất lượng thông tin BCTC (Bảng 4.8).
  • Phân tích biến điều tiết:
    • Biến điều tiết Quy mô công ty (QMCT): Thống kê mô tả (Bảng 4.9a), phân tích ANOVA độ tin cậy (Bảng 4.9b), kiểm định sự khác biệt giữa các nhóm quy mô (Bảng 4.9c) và phân tích ảnh hưởng của QMCT đến sự tác động của các biến độc lập vào biến phụ thuộc (Bảng 4.9d).
    • Biến điều tiết Vốn nhà nước (VNN): Thống kê mô tả (Bảng 4.10a), phân tích ANOVA (Bảng 4.10b), kiểm định sự khác biệt giữa các nhóm vốn nhà nước (Bảng 4.10c) và phân tích ảnh hưởng của VNN đến mô hình hồi quy (Bảng 4.10d).
  • Kiểm định mô hình với hai đặc tính cơ bản:
    • Hồi quy với biến phụ thuộc là đặc tính Thích hợp (Bảng 4.11a: Tóm tắt mô hình; Bảng 4.11b: Kiểm định ANOVA; Bảng 4.11c: Hệ số tác động của các yếu tố QTCT).
    • Hồi quy với biến phụ thuộc là đặc tính Trình bày trung thực (Bảng 4.12a: Tóm tắt mô hình; Bảng 4.12b: Kiểm định ANOVA; Bảng 4.12c: Hệ số tác động của các yếu tố QTCT).
  • Bàn luận và giải thích nguyên nhân: Tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết (Bảng 4.13), kết hợp phỏng vấn chuyên gia định tính để giải thích thực trạng và nguyên nhân tồn tại của từng đặc tính chất lượng BCTC cũng như cơ chế tác động của từng biến QTCT (tỷ lệ HĐQT độc lập, sự hiện diện chuyên gia kế toán HĐQT, kiêm nhiệm chức danh, tần suất họp HĐQT, tỷ lệ độc lập BKS, chuyên môn BKS, sự hiện diện KTNB).

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Chương 5 đúc kết các kết quả chính và đề xuất hai nhóm giải pháp:

  • Nhóm kiến nghị nâng cao từng đặc tính chất lượng BCTC: Các giải pháp kỹ thuật nhằm cải thiện tính Thích hợp (5.1.1), Trình bày trung thực (5.1.2), Có thể hiểu được (5.1.3), Có thể so sánh được (5.1.4) và Kịp thời (5.1.5).
  • Nhóm kiến nghị tăng cường cơ chế QTCT:
    • Hoàn thiện HĐQT (5.2.1): Nâng cao tỷ lệ độc lập thực chất, bổ sung chuyên gia tài chính - kế toán, duy trì số lượng cuộc họp thực chất và tách rời chức danh Chủ tịch HĐQT và Tổng Giám đốc;
    • Tăng cường hiệu quả BKS (5.2.2): Đảm bảo tính độc lập và nâng cao năng lực chuyên môn kế toán tài chính của kiểm soát viên;
    • Thiết lập và hoàn thiện bộ phận KTNB (5.2.3) trong công ty niêm yết;
    • Khuyến nghị dành cho các công ty niêm yết (5.3) và các công ty kiểm toán độc lập (5.5).
  • Trình bày các hạn chế của đề tài và gợi ý các hướng nghiên cứu trong tương lai (5.3/5.6).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án đã hệ thống hóa một cách toàn diện nền tảng lý thuyết về chất lượng thông tin BCTC và QTCT từ các công trình nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam.
  • Kết hợp đồng thời 4 lý thuyết nền tảng (Lý thuyết thông tin hữu ích, Lý thuyết thông tin bất cân xứng, Lý thuyết ủy nhiệm, Lý thuyết hành vi quản lý) để giải thích cơ chế tác động của cấu trúc QTCT nội bộ đối với hành vi lập và công bố thông tin BCTC.

Đóng góp về mặt phương pháp nghiên cứu

  • Luận án đã xây dựng, kiểm định độ tin cậy (Cronbach's Alpha) và giá trị (EFA) của bộ thang đo đo lường chất lượng thông tin BCTC hướng đến tính hữu ích cho người ra quyết định, dựa trên khung mẫu 5 đặc tính chất lượng của FASB và IASB (2010), thích ứng với bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam.
  • Thiết kế quy trình nghiên cứu hỗn hợp gắn kết và giải thích chặt chẽ, kết hợp khảo sát định lượng trên mẫu công ty niêm yết quy mô lớn với phương pháp phỏng vấn chuyên gia định tính 2 bước để vừa kiểm định mô hình vừa giải thích sâu sắc các phát hiện thực nghiệm.

Đóng góp về mặt thực tiễn và kiến nghị

  • Cung cấp dữ liệu thực nghiệm toàn diện phản ánh thực trạng chất lượng thông tin BCTC tại các công ty niêm yết trên cả hai sở giao dịch HOSE và HNX năm 2012 theo từng đặc tính chất lượng cụ thể.
  • Xác định rõ mức độ và chiều hướng tác động của từng yếu tố QTCT nội bộ (HĐQT, BKS, KTNB) cũng như vai trò điều tiết của quy mô công ty và sở hữu vốn nhà nước đối với chất lượng BCTC.
  • Cung cấp cơ sở khoa học cho các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước) trong việc sửa đổi, hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật về QTCT và công bố thông tin; đồng thời hỗ trợ các công ty niêm yết tự hoàn thiện cơ cấu quản trị để nâng cao tính minh bạch thông tin.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Các hạn chế của luận án

  • Về phạm vi thời gian: Dữ liệu khảo sát thực nghiệm của luận án tập trung vào năm tài chính 2012, chưa thực hiện theo dõi qua chuỗi thời gian dài (dữ liệu bảng qua nhiều năm) để đánh giá sự biến động theo chu kỳ kinh tế.
  • Về phạm vi các yếu tố QTCT: Đề tài chỉ giới hạn khảo sát các yếu tố quản trị nội bộ bên trong doanh nghiệp (HĐQT, BKS, KTNB), chưa bao quát đầy đủ các yếu tố quản trị bên ngoài như cơ chế kiểm soát của thị trường, vai trò của nhà đầu tư tổ chức nước ngoài, áp lực từ thị trường kiểm toán độc lập và môi trường thực thi pháp luật.
  • Về phạm vi đối tượng khảo sát: Mẫu nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở các công ty niêm yết trên hai sở giao dịch HOSE và HNX, chưa mở rộng sang các công ty đại chúng đăng ký giao dịch trên sàn UPCoM hoặc các doanh nghiệp chưa niêm yết.

Hướng nghiên cứu trong tương lai

  • Mở rộng nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng (panel data) qua nhiều năm liên tục nhằm phân tích xu hướng biến đổi dài hạn của chất lượng thông tin BCTC và tác động của QTCT.
  • Tích hợp thêm các biến số QTCT bên ngoài, cơ cấu sở hữu chi tiết (sở hữu nước ngoài, sở hữu gia đình, sở hữu ban điều hành) vào mô hình nghiên cứu.
  • Tiếp tục điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện bộ thang đo chất lượng BCTC để phù hợp với tiến trình áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) tại Việt Nam trong các giai đoạn tiếp theo.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán, Tài chính doanh nghiệp: Là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp "hoạt động hóa" các khái niệm chuẩn mực kế toán quốc tế (FASB/IASB) thành thang đo định lượng; quy trình kết hợp nghiên cứu hỗn hợp giữa kiểm định mô hình hồi quy và phỏng vấn chuyên gia định tính.
  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở Giao dịch Chứng khoán): Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về những điểm nghẽn trong công bố thông tin và cơ cấu quản trị, hỗ trợ công tác xây dựng, điều chỉnh Quy chế quản trị công ty và các quy định về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán.
  • Đối với Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc và Ban kiểm soát các công ty niêm yết: Là cẩm nang tham khảo để tự rà soát, tái cấu trúc HĐQT (tăng cường tính độc lập thực chất, bổ sung chuyên gia tài chính, tách rời chức danh điều hành), kiện toàn Ban kiểm soát và thành lập bộ phận Kiểm toán nội bộ nhằm nâng cao uy tín và chất lượng BCTC trước các nhà đầu tư.
  • Đối với các kiểm toán viên và công ty kiểm toán độc lập: Cung cấp góc nhìn toàn diện về các đặc tính chất lượng BCTC và các dấu hiệu rủi ro quản trị nội bộ cần lưu ý trong quá trình thực hiện kiểm toán BCTC công ty niêm yết.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án tiếp cận và đo lường khái niệm chất lượng thông tin BCTC theo hướng nào?

Luận án tiếp cận chất lượng thông tin BCTC theo nghĩa rộng, hướng đến tính hữu ích cho quá trình ra quyết định của người sử dụng (theo lý thuyết thông tin hữu ích và quan điểm của FASB/IASB 2010). Chất lượng thông tin không chỉ giới hạn ở các số liệu tài chính bắt buộc mà bao gồm cả thông tin phi tài chính, thông tin tự nguyện và giải trình quản trị trong Báo cáo thường niên, được đo lường qua 5 đặc tính: Thích hợp, Trình bày trung thực, Có thể hiểu được, Có thể so sánh và Kịp thời.

2. Bốn lý thuyết nền tảng được tác giả sử dụng trong luận án là gì?

Bốn lý thuyết nền tảng gồm:

  1. Lý thuyết thông tin hữu ích (Decision Usefulness Theory): Định hướng cung cấp thông tin hữu ích phục vụ người sử dụng ra quyết định kinh tế.
  2. Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information Theory): Giải thích sự chênh lệch thông tin giữa ban điều hành và nhà đầu tư, đề xuất cơ chế phát tín hiệu và giám sát.
  3. Lý thuyết ủy nhiệm (Agency Theory): Giải thích xung đột lợi ích giữa cổ đông và nhà quản lý khi tách biệt quyền sở hữu - quản lý, đòi hỏi cơ chế QTCT để kiểm soát chi phí ủy nhiệm.
  4. Lý thuyết hành vi trong quản lý: Thuyết X/Y của McGregor và Thuyết quyết sách quản lý của Herbert Simon, chỉ ra sự cần thiết phải thiết lập cơ cấu giám sát hành vi lập và công bố thông tin.

3. Những yếu tố QTCT nội bộ nào được đưa vào mô hình hồi quy nghiên cứu?

Mô hình nghiên cứu bao gồm 7 biến độc lập đại diện cho cấu trúc QTCT nội bộ:

  • Tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập;
  • Tình trạng kiêm nhiệm hai chức danh Chủ tịch HĐQT và Tổng Giám đốc (CEO);
  • Sự hiện diện của thành viên HĐQT độc lập có đào tạo, chuyên môn kế toán tài chính;
  • Tần suất (số lượng) cuộc họp của HĐQT;
  • Tỷ lệ thành viên độc lập của Ban kiểm soát;
  • Số lượng thành viên Ban kiểm soát có chuyên môn kế toán tài chính;
  • Sự hiện diện của bộ phận Kiểm toán nội bộ. Bên cạnh đó, mô hình kiểm định vai trò của 2 biến điều tiết là Quy mô công ty (QMCT) và Tỷ lệ vốn nhà nước (VNN).

4. Thiết kế phương pháp nghiên cứu hỗn hợp của luận án được triển khai như thế nào?

Luận án áp dụng phương pháp hỗn hợp gắn kết và giải thích:

  • Phương pháp định tính: Gồm 2 bước phỏng vấn chuyên gia (bước 1 hiệu chỉnh bộ thang đo chất lượng BCTC cho phù hợp với Việt Nam; bước 2 phỏng vấn chuyên gia QTCT để giải thích các kết quả phân tích định lượng).
  • Phương pháp định lượng: Sử dụng dữ liệu BCTC và BCTN năm 2012 của các công ty niêm yết trên HOSE và HNX, tiến hành đánh giá độ tin cậy thang đo (Cronbach's Alpha), phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích hồi quy đa biến OLS, phân tích ANOVA và kiểm định các giả định của mô hình hồi quy.

5. Khung dữ liệu và phạm vi khảo sát thực nghiệm của luận án là gì?

Luận án khảo sát dữ liệu Báo cáo tài chính và Báo cáo thường niên của các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) cho năm tài chính 2012, trong bối cảnh áp dụng Luật Doanh nghiệp 2005, Thông tư 121/2012/TT-BTC (về quản trị công ty) và Thông tư 52/2012/TT-BTC (về công bố thông tin).


Kết luận

Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Trọng Nguyên đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý thuyết và phương pháp đo lường chất lượng thông tin báo cáo tài chính theo định hướng tính hữu ích cho người ra quyết định dựa trên khung chuẩn mực FASB và IASB. Thông qua thiết kế nghiên cứu hỗn hợp gắn kết và giải thích, công trình đã kiểm định thực nghiệm tác động của các cơ chế quản trị công ty nội bộ (thuộc Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Kiểm toán nội bộ) cùng các biến điều tiết quy mô công ty và vốn nhà nước đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam năm tài chính 2012. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho việc hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty và nâng cao tính minh bạch của thị trường vốn Việt Nam.