CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY MÔ CHÍNH PHỦ, NỢ CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1. Cơ sở lý thuyết về quy mô chính phủ, nợ công và tăng trưởng kinh tế 1. Quy mô chính phủ Quy mô kinh tế là đại lượng được dùng để so sánh độ lớn nền kinh tế của các quốc gia. Có nhiều cách khác nhau để đo lường quy mô kinh tế.
Tuy nhiên, phương pháp cơ bản nhất là sử dụng các chỉ tiêu kinh tế để so sánh như : tổng sản phẩm quốc nội GDP, tổng sản phẩm quốc dân GNP. Lí do chọn GDP làm cơ sở để so sánh vì: a) GDP đo lường tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất trong biên giới của một quốc gia nhất định. Đây là phương pháp phổ biến nhất để đo lường đầu ra của nền kinh tế và do đó được coi là thước đo kích thước của một nền kinh tế; b) GDP còn được định nghĩa là tổng tất cả tiêu dùng của hộ gia đình, tất cả các đầu tư của các doanh nghiệp và tất cả khoản chi của chính phủ, cộng với xuất khẩu ròng của một quốc gia. Ngược lại GNP được định nghĩa là tổng giá trị bằng tiền của các sản phẩm cuối cùng và dịch vụ mà công dân của một nước làm ra trong một khoảng thời gian nào đó, thông thường là một năm tài chính, không kể làm ra ở trong nước hay ngoài nước.
Tương tự với cách tiếp cận này thì quy mô chính phủ cũng được xem như là đại lượng kinh tế để so sánh độ lớn của chính phủ của các quốc gia với nhau. Khác với quy mô kinh tế, quy mô chính phủ được đo lường bằng nhiều cách khác nhau. Tùy vào phương pháp, mục đích của nghiên cứu thì các chỉ tiêu sẽ được lựa chọn thích hợp. Cụ thể theo nghiên cứu của Thanh (2015) thì quy mô chính phủ được đo lường bằng 4 chỉ tiêu: Chi tiêu ngân sách cấp tỉnh/ tổng sản phẩm trong tỉnh (GPP), Thu ngân sách cấp tỉnh/ GPP, Chi tiêu bình quân đầu người và thu bình quân đầu người của ngân sách cấp tỉnh.
Nghiên cứu của Esmaiel Abounoori & Younes Nademi (2010) lại sử dụng 3 chỉ tiêu để đo lường quy mô chính phủ : Tổng chi tiêu chính phủ/ GDP, Chi thường xuyên/ GDP, Chi đầu tư / GDP. Ngược lại, các tác giả Dimitar Chobanov và Mladenova (2009), Salma Keshtkaran, Khosrow Piraee, Farzane Bagheri (2012), Engen Skinner (1991), William R.DiPeitro & Emmanuel Anoruo( 2011) sử dụng chỉ tiêu : Chi tiêu chính phủ/ GDP để đo lường. Nghiên cứu của Marc Labonte (2010) cho rằng quy mô chính phủ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 được thể hiện ở một số đơn vị đo lường khác nhau như: đo bằng tiền, một tỷ lệ phần trăm của GDP hay bình quân đầu người. Vì vậy trên cơ sở đó Marc Labonte đo lường độ lớn của quy mô chính phủ như sau: số lao động phục vụ cho khu vực công, chi tiêu của chính phủ, thu của chính phủ.
Tóm lại tuy có nhiều cách khác nhau để đo lường quy mô chính phủ. Tuy nhiên, chỉ tiêu Chi tiêu chính phủ/GDP được ưu tiên sử dụng trong bài nghiên cứu này để đo lường cho biến quy mô chính phủ. Nợ công Theo luật quản lý nợ công (2009) của Việt Nam, nợ công bao gồm: Nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo quy định của pháp luật. Nợ chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ.
Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh. Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) ký kết, phát hành hoặc uỷ quyền phát hành. Nợ nước ngoài của quốc gia là tổng các khoản nợ nước ngoài của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ của doanh nghiệp và tổ chức khác được vay theo phương thức tự vay, tự trả theo quy định của pháp luật Việt Nam. Theo Ngân hàng thế giới ( WB 2014) , Nợ chính phủ là toàn bộ khoản chứng khoán của các nghĩa vụ đã được ký hợp đồng có thời hạn nhất định phải trả cho các đối tác vào một ngày đáo hạn cụ thể.
Nó bao gồm khoản nợ phải trả trong nước và ngoài nước, ví dụ như các khoản tiền gửi bằng tiền hoặc ngoại tệ, các chứng khoán không phải cổ phiếu và các khoản vay. Đó là tổng khoản nợ phải trả của Chính phủ trừ đi các khoản vốn và các TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 công cụ tài chính phái sinh được Chính phủ nắm giữ. Tóm lại, tùy thuộc vào thể chế kinh tế và chính trị, quan niệm về nợ công ở mỗi quốc gia cũng có sự khác biệt. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nợ công được hiểu bao gồm ba nhóm là: nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương.
Như vậy, khái niệm về nợ công theo quy định của pháp luật Việt Nam được định nghĩa hẹp hơn so với thông lệ quốc tế. Tại hầu hết các nước trên thế giới, Luật Quản lý nợ công đều xác định: Nợ công gồm nợ của Chính phủ và nợ được Chính phủ bảo lãnh. Một số nước và vùng lãnh thổ, nợ công còn bao gồm cả nợ của chính quyền địa phương (Đài Loan, Bungari, Rumani…), nợ của doanh nghiệp nhà nước phi lợi nhuận (Thái Lan, Inđônêxia…). Một cách khái quát nhất, có thể hiểu “ nợ công là tổng giá trị các khoản tiền mà Chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay nhằm bù đắp cho các khoản thâm hụt ngân sách”.
Tăng trưởng kinh tế 1. Khái niệm tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế được định nghĩa là sự tăng lên về số lượng, chất lượng, tốc độ và quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Sự tăng trưởng được so sánh theo các thời điểm gốc sẽ phản ánh tốc độ tăng trưởng. Đó là sự gia tăng quy mô sản lượng kinh tế nhanh hay chậm so với thời điểm gốc.
Hiện nay, trên thế giới người ta thường tính mức gia tăng về tổng giá trị của cải của xã hội bằng đại lượng đó là tổng sản phẩm quốc nội. Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới (2014): Tổng sản phẩm trong nước (GDP) là giá trị cuối cùng của tất cả các hàng hóa và dịch vụ được sản xuất tại một quốc gia trong một năm. GDP được đo bằng 2 phương pháp: Phương pháp thu nhập: GDP = W + R +I + Pr + Ti + De trong đó W là thu nhập từ tiền lương , R là tiền cho thuê đất, I là thu nhập tiền lãi của người cho vay , Pr là lợi nhuận của chủ doanh nghiêp , Ti là thuế gián thu, De là khấu hao. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Phương pháp chi tiêu: GDP= C + G + I+ NX trong đó C là tiêu dùng của hộ gia đình, I là đầu tư, G là mua sắm chính phủ và NX là giá trị xuất khẩu ròng (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu).
Cả hai phương pháp đều cho kết quả giống nhau vì chi tiêu của người này luôn luôn là thu nhập của người khác. Do vậy tổng của tất cả các khoản thu nhập phải bằng tổng của tất cả các khoản chi tiêu Có thể sử dụng GPD theo giá hiện hành (GDP danh nghĩa) hoặc sử đung GDP theo giá cố định (GDP thực) để đo lường GDP. Để đo lường tốc độ tăng trưởng GDP thực hoặc danh nghĩa người ta thường sử dụng tốc độ tăng trưởng (Gi). Tốc độ tăng trưởng phản ánh % thay đổi của của năm sau so với năm trước.
𝐺𝐷𝑃𝑡 − 𝑮𝑫𝑷𝒕−1 Gi (%) = X 100 𝐺𝐷𝑃𝑡−1 Trong đó: GDPt : GDP ở năm thứ t của thời kỳ nghiên cứu. GDPt-1: GDP ở năm trước đó của thời kỳ nghiên cứu 1. Các mô hình tăng trưởng Cùng với kết quả tăng trưởng và phát triển nhanh chóng của kinh tế thế giới thời gian qua, các nghiên cứu của kinh tế học và kinh tế phát triển có xu hướng tìm hiểu về quá trình thay đổi của các mô hình tăng trưởng. Các mô hình tăng trưởng được xây dựng như sau: Mô hình tăng trưởng truyền thống: tiêu biểu cho trường phái này là hai nhà kinh tế học Adam Smith, David Ricardo.
Mô hình cho rằng lao động, vốn, đất đai sản xuất nông nghiệp là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế. Trong đó đất đai sản xuất được xem là nhân tố quan trọng và là giới hạn của tăng trưởng. Do đất sản xuất có giới hạn trong khi đó người sản xuất cần phải mở rộng diện tích canh tác nên phải sản xuất trên đất xấu vì vậy lợi nhuận của chủ đất thu được ngày càng giảm dẫn đến chí phí sản xuất lương thực, thực phẩm cao, giá bán hàng hóa nông phẩm tăng, tiền lương danh nghĩa tăng và lợi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 nhuận của nhà tư bản công nghiệp giảm. Mà lợi nhuận là nguồn tích lũy để mở rộng đầu tư dẫn đến tăng trưởng.
Như vậy, do giới hạn đất nông nghiệp dẫn đến xu hướng giảm lợi nhuận của cả người sản xuất và ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Nhưng thực tế mức tăng trưởng ngày càng tăng cho thấy mô hình này không giải thích được nguồn gốc của tăng trưởng Hàm tăng trưởng được xác định: Y=F(K, L, R ) Trong đó: Y: tốc độ tăng trưởng GDP K, L, R : vốn, lao động, đất đai. Mô hình tăng trưởng theo trường phái Keynes: tiêu biểu của lý thuyết theo trường phái Keynes là mô hình Harrod - Domar. Đặc điểm chung của nhóm lý thuyết này là nhấn mạnh đến quá trình phát triển kinh tế phải đi qua từng giai đoạn nhất định và nhấn mạnh đến quá trình tích lũy vốn.
Trong đó, quá trình tích lũy vốn phụ thuộc vào quá trình tiết kiệm và đầu tư. Hai nhân tố này quyết định đến tăng trưởng kinh tế. Mô hình xem tích lũy vốn như là một điều kiện để quốc gia phát triển. Bên cạnh đó mô hình cũng chú trọng tới tăng trưởng của nền kinh tế trong ngắn hạn.
Ngoài ra mô hình tăng trưởng theo trường phái Keynes của Harrod- Domar còn chỉ ra cách tính hệ số ICOR: hệ số sử dụng vốn, hay hệ số đầu tư tăng trưởng.