Chương 1 Thị trường chứng khoán có vai trò rất lớn trong sự phát triển nền kinh tế đất nước, phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam là một yếu tố quan trọng tạo tiền đề để phát triển nền kinh tế. Thị trường non trẻ ở Việt Nam mới hình thành 13 năm nhưng trải qua rất nhiều thăng trầm. Có rất nhiều nhân tố vĩ mô tác động đến thị trường chứng khoán, đặc biệt là lạm phát. Trong giới hạn của đề tài, luận văn chỉ nghiên cứu một số nhân tố như lạm phát (chỉ số giá tiêu dùng CPI ), lãi suất, tỷ giá và giá vàng.
Hi vọng rằng những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần cung cấp thêm thông tin và cái nhìn rõ hơn về tác động của lạm phát đến thị trường chứng khoán Việt Nam từ đó đem lại lợi ích nhất định cho nhà đầu tư. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƯƠNG 2: NHỮNG NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT ĐẾN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 2.1 Tác động của lạm phát đến chứng khoán: Kết quả nghiên cứu của Fama và Schwert (1977), Chen, Roll, Ross (1986), Nelson (1976), DeFina (1991) và Jaffe - Mandelker (1976) đã nhấn mạnh đến mối quan hệ nghịch biến giữa lạm phát và giá chứng khoán. Về căn bản, TTCK sẽ hoạt động mạnh dưới hai điều kiện: tăng trưởng kinh tế cao và lạm phát thấp. Nhưng nếu nền kinh tế phát triển mà lạm phát tăng cao thì chưa chắc đã là tốt.
Khi mối nguy lạm phát tăng cao, các nhà phân tích đầu tư sẽ nghi ngờ về sự thịnh vượng của nền kinh tế hay các báo cáo tăng trưởng việc làm. Lý do là họ lo sợ rằng dường như đang có một sự bùng nổ lạm phát, một sự phát triển giả tạo đã được tạo nên bởi việc dễ dãi trong tín dụng của chính quyền, do chính phủ chấp nhận một mức thâm hụt ngân sách cao hơn và mở rộng cung tiền. Mối quan hệ thực sự của lạm phát và giá cổ phiếu luôn là một câu hỏi thực nghiệm hóc búa và mối quan hệ này sẽ thay đổi theo thời gian. Kinh nghiệm từ TTCK các nước phát triển cho thấy lạm phát và giá cổ phiếu có tương quan nghịch, bởi lẽ xu hướng của lạm phát xác định tính chất tăng trưởng.
Lạm phát tăng cao luôn là dấu hiệu cho thấy nền kinh tế đang nóng, báo hiệu sự tăng trưởng kém bền vững, trong khi TTCK như chiếc nhiệt kế đo sức khỏe nền kinh tế. Khi lạm phát tăng cao, tiền mất giá, người dân không muốn giữ tiền mặt hoặc gửi tiền trong ngân hàng mà chuyển sang nắm giữ vàng, bất động sản, ngoại tệ mạnh. khiến một lượng vốn nhàn rỗi đáng kể của xã hội nằm im dưới dạng tài sản chết. Thiếu vốn đầu tư, không tích lũy để mở rộng sản xuất, sự tăng trưởng của doanh nghiệp nói riêng và cả nền kinh tế nói chung sẽ chậm lại.
Lạm phát tăng cao còn ảnh hưởng trực tiếp tới các doanh nghiệp: dù hoạt động kinh doanh vẫn có lãi, chia cổ tức ở TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 mức cao nhưng tỉ lệ cổ tức khó gọi là hấp dẫn khi lạm phát cao. Điều này khiến đầu tư chứng khoán không còn là kênh sinh lợi.2 Tổng quan một số nghiên cứu tiêu biểu: Các biến số kinh tế vĩ mô, trong đó có biến quan trọng là lạm phát đều tác động tới dòng tiền trong tương lai và lợi suất yêu cầu vì thế sẽ ảnh hưởng tới giá cổ phiếu của thị trường chứng khoán. Những thông tin về lạm phát và một số nhân tố vĩ mô ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán được rất nhiều các đối tượng quan tâm và thực sự hữu ích cho những nhà hoạch định chính sách, các nhà đầu tư, các công ty niêm yết, công ty chứng khoán. Chính vì lẽ đó đã có rất nhiều nhà nghiên cứu đã tham gia dự báo mối quan hệ giữa lạm phát, các biến kinh tế vĩ mô và thị trường chứng khoán bằng việc sử dụng những mô hình nghiên cứu khác nhau.
Ioannides, Katrakilidis và Lake (2002) kiểm định mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán và tỷ lệ lạm phát ở Hy Lạp trong giai đoạn 1985-2000. Có lập luận rằng thị trường chứng khoán có thể phòng ngừa lạm phát, phù hợp với giả thuyết của Fisher. Lập luận khác là các thị trường chứng khoán thực sự là miễn dịch với áp lực lạm phát. Nghiên cứu này đã cố gắng để kiểm định ba loại tương quan dù trước hết là thị trường chứng khoán đã là một nơi an toàn cho các nhà đầu tư ở Hy Lạp.
Bằng chứng thực nghiệm phân loại các mối tương quan thành ba loại. Trước tiên, có mối tương quan dương giữa tỷ suất sinh lợi của thị trường chứng khoán và lạm phát. Họ sử dụng kỹ thuật đồng liên kết ARDL kết hợp với kiểm định nhân quả Granger để kiểm tra tác động dài hạn và ngắn hạn giữa các biến có liên quan cũng như xu hướng của những hiệu ứng này. Có một mối tương quan âm theo chiều từ lạm phát sang tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán trong thời kỳ đầu tiên.
Các kết quả này phù hợp với Fama (1981). Quan hệ nhân quả hai chiều lâu dài xuất hiện trong thời kỳ thứ 2. Đã có một ảnh hưởng quan hệ nhân quả theo chiều chạy từ tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán sang lạm phát. Bằng chứng cũng cho thấy ảnh hưởng nhân quả chạy từ lạm phát trở lại thị trường chứng khoán trong thời kỳ thứ 2.
Thời kỳ thứ 2 cho thấy mối quan hệ hỗn hợp là cũng phù hợp với Spyrou (2001). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Laopodis (2005) xem xét sự tương tác năng động giữa các thị trường chứng khoán, hoạt động kinh tế, lạm phát và chính sách tiền tệ. Nhà nghiên cứu nhìn vào vấn đề đầu tiên liên quan đến vai trò của chính sách tiền tệ. Bằng cách sử dụng kiểm định đồng liên kết, quan hệ nhân quả, Phương pháp sai số cho hàm hai biến và mô hình VAR đa biến hoặc mô hình VEC.
Với kết quả hai biến, họ thấy rằng có mối tương quan yếu giữa tỷ suất sinh lợi cổ phiếu và lạm phát, điều này có nghĩa là thị trường chứng khoán có thể chống lại lạm phát. Mặt khác, kết quả hai biến khẳng định một tương quan âm và một chiều giữa tỷ suất sinh lợi cổ phiếu và tỷ lệ dự trữ của FED vào những năm 1990 nhưng rất yếu trong những năm 1970. Với mô hình đa biến, họ đã tìm thấy hỗ trợ mạnh mẽ của mối tương quan ngắn hạn trong những năm 1970 cùng với tương quan một chiều trong những năm 1990. Điều này cho thấy tỷ suất sinh lợi cổ phiếu không tương quan dương với chính sách nới lỏng tiền tệ, điều đã diễn ra trong suốt những năm 1990, hay tương quan âm với chính sách thắt chặt tiền tệ.
Đã có mối quan hệ năng động nhất quán giữa chính sách tiền tệ và giá cổ phiếu. Kết luận này dường như mâu thuẫn với Fama (1981), đã cho rằng lạm phát và hoạt động kinh tế có mối tương quan âm nhưng hoạt động kinh tế và tỷ suất sinh lợi chứng khóan có mối tương quan dương. Aliyu Shehu Usman Rano (2010): Nghiên cứu sử dụng mô hình GARCH đánh giá sự tác động của lạm phát đến tỷ suất sinh lợi và sự ổn định của thị trường chứng khoán Nigeria và Ghana dựa trên chuỗi dữ liệu thời gian hàng tháng trong giai đoạn 1998-2010. Ngoài ra, tác động của các cú sốc bất đối xứng đã được nghiên cứu bằng cách sử dụng mô hình GARCH bậc hai được phát triển bởi Sentana (năm 1995), trong cả hai nước.
Kết quả cho thấy ở thị trường Nigeria tin tức xấu tác động mạnh hơn đến sự ổn định của thị trường chứng khoán hơn tin tức tốt và ngược lại đối với thị trường Ghana. Thứ 2, tỷ lệ lạm phát và trung bình 3 tháng của nó có ảnh hưởng đáng kể trên biến động thị trường chứng khoán ở cả hai quốc gia. Các biện pháp sử dụng đối với kiềm chế lạm phát ở hai nước, do đó, chắc chắn sẽ làm giảm biến động của thị trường chứng khoán, cải thiện tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán và tăng niềm tin nhà đầu tư. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Omotor (2011): nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán Nigeria giai đoạn từ năm 1985- 2008. Bằng phương pháp kiểm định nghiệm đơn vị ADF (Augmented Dickey- Fuller), phương pháp kiểm định đồng liên kết (Co-integrations test), mô hình hiệu chỉnh sai số: (ECM) và kiểm định nhân quả Granger, nghiên cứu cho thấy tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán có thể cung cấp một hàng rào chống lạm phát hiệu quả ở Nigeria, tồn tại mối quan hệ quan trọng và dương giữa lạm phát và giá cổ phiếu. Trong dài hạn các nhà đầu tư ở Nigeria có thể đầu tư vào danh mục cổ phiếu tốt để chống lại tác động của lạm phát. Một phát hiện thú vị của bài nghiên cứu này được đề cập là các lĩnh vực tiền tệ và hoạt động thực sự của nền kinh tế không độc lập với nhau, tiền cũng có vai trò quan trọng trong việc giải thích quá trình lạm phát ở Nigeria.
Vì vậy, các chính sách hướng vào kiểm soát lạm phát nên đi vào làm rõ vai trò của chính sách tiền tệ, đặc biệt là ảnh hưởng lâu dài đến thị trường chứng khoán. Seyed Mehdi Hosseini, Zamri Ahmad, Yew Wah Lai (2011): Bài viết này điều tra các mối quan hệ giữa các chỉ số thị trường chứng khoán và bốn biến số kinh tế vĩ mô, cụ thể là giá dầu thô (COP), cung tiền (M2), sản xuất công nghiệp (KCN) và tỷ lệ lạm phát (IR) ở Trung Quốc và Ấn Độ. Thời gian nghiên cứu từ giữa tháng 1 năm 1999 đến tháng 1 năm 2009. Bằng phương pháp kiểm định nghiệm đơn vị ADF (Augmented Dickey-Fuller), phương pháp kiểm định đồng liên kết (Co-integrations test) Johansen-Juselius (1990), mô hình Véc tơ hiệu chỉnh sai số (VECM).
Kết quả cho thấy trong cả dài hạn và ngắn hạn, có một mối liên hệ giữa bốn biến kinh tế vĩ mô được lựa chọn và chỉ số thị trường chứng khoán Trung Quốc và Ấn Độ. Về lâu dài, tác động của tăng giá dầu thô ở thị trường Trung Quốc là dương nhưng ở thị trường Ấn Độ hiệu ứng này là âm. Về cung tiền, tác động trên thị trường chứng khoán Ấn Độ là âm, nhưng đối với Trung Quốc, có tác động dương. Tác động của sản xuất công nghiệp là âm và chỉ có ở Trung Quốc.
Ngoài ra, tác động của sự gia tăng lạm phát trên các chỉ số chứng khoán là dương ở cả hai nước.