Chương 1 : Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và kiến nghị TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY 2.1 Chi tiêu chính phủ 2.1 Khái niệm Chi tiêu chính phủ Nhìn chung, chi tiêu chính phủ có thể được hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa rộng, chi tiêu chính phủ là tổng hợp tất cả các khoản chi của chính quyền trung ương, chính quyền địa phương, các doanh nghiệp nhà nước và một số đối tượng khác khi cùng trang trải kinh phí cho các hoạt động của Chính phủ. Theo nghĩa hẹp, đây là những chi phí trong việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ được tài trợ bởi Chính phủ thông qua chi ngân sách Nhà nước. Kormendi & Meguire (1985) và Barro (1991) cho rằng chi tiêu chính phủ được khái niệm thông qua việc phản ánh chính sách tài khoá, tiêu dùng chính phủ.
Shah (2003) lại cho rằng chi tiêu chính phủ là khoản chi được chính phủ thực hiện thông qua các nguồn thu như thuế, phí, lệ phí,. nhằm chi trả cho các khoản chuyển nhượng đến các cá nhân và doanh nghiệp, thanh toán lãi cho các khoản nợ vay và tài trợ cho các chi tiêu tổng thể của chính phủ Theo Bùi Đại Dũng (2012), chi tiêu chính phủ hiện nay ở khá nhiều nước trên thế giới mang tính chất chính trị, nó là sự chia sẻ lợi ích từ “bầu sữa” ngân sách được hợp pháp hóa thông qua chính sách tài khóa thường niên và quy trình chi tiêu ngân sách hiện được thừa nhận như một tập quán khó thay đổi. Có thể nói, dù nghĩa rộng sẽ phản ánh đầy đủ hơn chi phí xã hội của các hoạt động của Chính phủ, nhưng những khái niệm của các nhà nghiên cứu trên có xu hướng thiên về định nghĩa chi tiêu chính phủ theo nghĩa hẹp do những khó khăn rất lớn trong việc ước tính chi phí đó. Chính vì thế, trong phạm vi và sự phù hợp với mục tiêu của nghiên cứu này, tác giả sẽ lựa chọn khái niệm chi tiêu chính phủ là những khoản chi tiêu của Chính phủ, các cấp chính quyền thông qua ngân sách Nhà nước nhằm phục vụ cho những hoạt động và chức năng quản lý của chính quyền.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Chi tiêu chính phủ theo chức năng Khi quy mô chính phủ là vấn đề liên quan đến sự lựa chọn công, các thành phần của nó trở nên được quan tâm cho các cuộc thảo luận chính sách. Vì vậy khi đề cập đến chi tiêu chính phủ nói chung, không thể không nói đến các hạng mục của nó. Các lý thuyết kinh tế và nghiên cứu trước đây thường đặt mối quan tâm các hạng mục của chi tiêu chính phủ trong mối quan hệ với tăng trường kinh tế. Theo đó, cấu trúc của chi tiêu công có thể trở thành công cụ hữu ích trong việc gây ảnh hưởng đến mức độ và tỷ lệ tăng trưởng kinh tế thông qua ảnh hưởng của chúng lên tổng cung.
Cốt lõi của chính sách tối ưu là những mô hình chính sách công dựa trên sự tăng trưởng nội sinh, thực tế được biết đến như một sự mở rộng của lý thuyết về tăng trưởng nội sinh. Trong ngân sách chính phủ, các khoản chi được phân loại dựa trên mục đích, chức năng để có thể so sánh, đối chiếu các hoạt động chính yếu theo thời gian. Những sự trình bày theo chức năng sẽ tiết lộ xu hướng và khả năng so sánh với các khoản chi khác. Oxley và Martin (1991); Saunders (1993) xếp chi tiêu chính phủ gồm khoản chi cho hàng hóa công thuần túy (pure goods), hàng khuyến dụng (merit goods), khoản chi chuyển giao (tranfers), các dịch vụ kinh tế và các khoản chi khác không được phân loại.
Trong khi đó, Barro và Sala-i-Martin (1995), Kneller (1999) chia chi tiêu chính phủ thành hai hạng mục chính : một là khoản chi có tác động đến năng suất (productive expenditure), bao gồm dịch vụ công tổng thể (public services), quốc phòng (defense), bảo vệ an ninh và trật tự ( public order and national safety), giáo dục (education), y tế (health), đây là những khoản chi được Uỷ ban Châu u xem như những khoản chi “thân thiện” với sự tăng trưởng của đất nước ( growth-friendly expenditures) ; và hai là khoản chi phi sản xuất (non-productive expenditure) như văn hóa, nghệ thuật, tôn giáo ( culture, recreation, religion) và phúc lợi xã hội (social protection). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Rõ ràng sự phân chia chi tiêu chính phủ thành phát triển và phi phát triền ( developmental expenditures và non-developmental expenditures) là phiên bản mới của sự phân chia chi tiêu chính phủ có tính sản xuất (productive expenditures) và phi sản xuất (non-productive expenditures) theo quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển. Theo đó, khoản chi cho quốc phòng và quản trị dân sự (defense và civil administration) giúp duy trì các điều kiện cho các hoạt động tạo ra năng suất cho kinh tế đất nước được vận hành một cách thuận lợi.
Vì vậy, ở một mức độ nào đó, khoản chi cho quốc phòng và quản trị dân sự có thể gián tiếp mang lại năng suất (productive). Tương tự, trước đây khoản chi cho giáo dục và y tế được xếp vào dạng phi phát triển (non-developmental type). Tuy nhiên, hiện nay xu hướng chi cho giáo dục và y tế của chính phủ với một mức độ hợp lý sẽ có tác dụng cải thiện sự tăng trưởng của nhân tố được gọi là vốn con người (human capital), qua đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế nói chung cũng như vốn vật chất (physical capital), điều này đặc biệt có ý nghĩa với các quốc gia đang phát triển. Do đó, trong một số trường hợp, các khoản chi này cũng được xem như những khoản chi phát triển (developmental expenditure).
Có thể nói, những khoản chi tiêu công có khả năng tác động đến năng suất (productive public expenditures) có thể ảnh hưởng tới hiệu quả của khu vực tư, tạo ra ngoại tác tích cực đến các doanh nghiệp và có tác động cùng chiều với năng suất biên của vốn và lao động. Trong khi đó, các khoản chi tiêu công phi năng suất (non- productive public expenditures) lại tác động trực tiếp đến xã hội nói chung (Angelopoulos, 2006; Devarajan, 1996) , ảnh hưởng đến phúc lợi của người dân nước đó nhưng không làm thay đổi mức hiệu quả của khu vực tư (Barro và Sala-i- Martin, 1995) Tóm lại, có thể thấy rằng cách phân chia thành phần chi tiêu chính phủ của các nhà nghiên cứu ( ví dụ như developmental và non-developmental; pro- ductive và unproductive ) không dựa hoàn toàn vào tiêu chuẩn chính thống nào, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 mặc dù những phân chia đó vẫn có sự tương đồng về bản chất. Vì thế nhìn chung, đôi khi nó mang tính chất của một sự phân chia khá tùy ý và hoàn toàn có sự xem xét về việc phù hợp với hoàn cảnh nghiên cứu. Do đó, trong giới hạn của bài luận này, để phục vụ cho nghiên cứu tác động của hội nhập kinh tế đến chi tiêu chính phủ, tác giả sẽ vận dụng cách cấu trúc chi tiêu chính phủ của một số nghiên cứu như Kneller (1999) và Guru (2016),…; theo đó khoản chi như giáo dục, … cũng sẽ được xem có tính chất tác động đến năng suất và tạo điều kiện cho các nhân tố khác phát triển.2 Hội nhập kinh tế Toàn cầu hóa là gì Có thể nói, toàn cầu hóa kinh tế là quá trình lực lượng sản xuất và quan hệ kinh tế vượt khỏi biên giới quốc gia và phạm vi từng khu vực.
Trong đó, sự hội nhập kinh tế thể hiện ở việc hàng hóa, vốn, thông tin, lao động, …vận động thông thoáng; và mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia, khu vực đan xen nhau tạo nên mạng lưới quan hệ đa chiều có sự hợp tác và đấu tranh giữa các thành viên trong cộng đồng quốc tế. Đặc biệt, đặc trưng nổi bật cho sự năng động của hội nhập kinh tế là sự giao thương trên thị trường toàn cầu và sự linh hoạt của dòng vốn đầu tư ở cả hai chiều của mỗi quốc gia.1 Độ mở thƣơng mại 2.1 Khái quát Không chỉ riêng độ mở thương mại, khi đề cập đến sự mở cửa của nền kinh tế nói chung, Fisher (2003) cho rằng quá trình tiếp theo của sự độc lập kinh tế với mức độ lớn hơn của các quốc gia được phản ánh trong sự tăng lên của khối lượng giao dịch, trao đổi thương mại xuyên quốc gia của hàng hóa và dịch vụ, sự phát triển của lượng dòng vốn quốc tế và sự tăng lên của dòng lao động luân chuyển linh hoạt giữa các nước. Theo Muhammad Shahbaz (2012), nỗ lực tạo sự thuận lợi cho việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các nước được biết đến như đặc trưng của độ mở thương mại. Ngân hàng Thế giới (2002) nhấn mạnh lợi ích của độ mở thương mại cho các nền kinh tế đang phát triển trong giai đoạn tiếp theo của làn sóng tự do hóa kinh tế.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Họ phân loại các quốc gia đang phát triển thành hai nhóm có mức tự do hóa cao và có mức tự do hóa kém, nhóm nước có độ mở hơn sẽ có khả năng tham gia vào thị trường hàng hóa toàn cầu hơn là việc chỉ dựa vào tình trạng xuất khẩu truyền thống thuần túy. Theo Romer (1990), độ mở thương mại cho phép các nhà sản xuất trong nước kết nối với một lượng lớn các loại hàng hóa và mở rộng một cách có hiệu quả nền tảng của các hiểu biết về năng suất. Coe & Helpman (1995) cho rằng các nghiên cứu của Romer (1990), Aghion & Howitt (1992) và Grossman & Helpman (1991) có ngụ ý tương tự nhau, đó là năng suất các nhân tố tổng hợp tăng khi thương mại của một quốc gia phát triển theo hướng có độ mở đáng kể.2 Một số lý thuyết cổ điển về thƣơng mại quốc tế Chủ nghĩa trọng thƣơng ( The mercantile theory) Cuối thế kỉ 15 đầu thế kỉ 16, thương mại bắt đầu phát triển nhờ các nhân tố như: Các phát kiến địa lý tạo điều kiện cho sự hình thành các tuyến đường vận tải thương mại, sự gia tăng dân số tạo nên thị trường lao động, thị trường tiêu thụ, làm tăng doanh lợi của các nhà sản xuất và thương gia.