Chương 1: Tổng quan nghiên cứu. Giới thiệu sự cần thiết nghiên cứu; Mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Trình bày các khái niệm có liên quan đến nghiên cứu; Phương pháp đánh giá tác động chính sách; Tổng quan chính sách can thiệp dự phòng giảm tác hại của dịch HIV; Các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Trình bày khung nghiên cứu, mô hình nghiên cứu; Mô tả dữ liệu, thu thập và phân tích dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Giới thiệu chương trình hỗ trợ tài chính đối với phòng ngừa HIV/AIDS tại Đồng Tháp; Phân tích ảnh hưởng của hỗ trợ tài chính đến phòng chống lây nhiễm HIV trong cộng đồng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp; Những khó khăn, vướng mắc của hỗ trợ tài chính đối với công tác phòng chống lây nhiễm HIV trong cộng đồng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp và nguyên nhân.
Thảo luận kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và các khuyến nghị. Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu; Hàm ý chính sách nhằm cải thiện ảnh hưởng tích cực của hoạt động hỗ trợ tài chính đối với công tác phòng chống lây nhiễm HIV trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp. Đồng thời, chỉ ra những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Chương 2.
Tổng quan về HIV, AIDS và chương trình phòng chống HIV, AIDS ở Việt Nam 2. Khái niệm HIV, AIDS HIV là một chữ viết tắt của loại vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người. HIV gây tổn thương hệ thống miễn dịch của cơ thể và làm cho cơ thể không còn khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh dẫn đến chết người. Có 3 con đường lây truyền HIV: Tình dục, đường máu, mẹ truyền sang con (Tổ chức Y tế thế giới, 1991).
AIDS là chữ viết tắt của hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người. AIDS là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV. Trong giai đoạn này, hệ thống miễn dịch của cơ thể bị suy yếu nên người bệnh dễ mắc các bệnh bệnh nhiễm trùng cơ hội, ung thư và các bệnh liên quan đến rối loạn miễn dịch dẫn đến tử vong (Tổ chức Y tế thế giới, 1991). Thời gian từ khi nhiễm HIV đến biến chuyển thành bệnh AIDS tùy thuộc vào hành vi và đáp ứng miễn dịch của từng người nhưng tựu chung lại trong khoảng thời gian trung bình là 5 năm (Chương trình kiểm soát HIV AIDS, Bộ Y tế Việt Nam, 2005).
Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm HIV trong cộng đồng Đến nay, HIV/AIDS là đại dịch. Ngoài các yếu tố hành vi thuộc về cá nhân như quan hệ tình dục không an toàn, tiêm chích ma túy và truyền máu bị nhiễm HIV gây ra mối đe dọa trực tiếp đến nhiễm HIV cho các cá nhân liên quan thì những các yếu tố kinh tế xã hội có ảnh hưởng quyết định để tỷ lệ nhiễm HIV ở cấp độ cộng đồng gồm có nghèo đói, thu nhập quốc dân, phát triển, di cư, trình độ học vấn, tiếp cận các dịch vụ y tế, tiếp cận thông tin và quản lý của nhà nước. Yếu tố hành vi Ở các nước phát triển, đại dịch lần đầu tiên xuất hiện và bị giới hạn trong quần thể người đồng tính và tiêm chích ma túy và đây chính là lý do tại sao các chính TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 sách phòng ngừa chỉ dựa trên hành vi an toàn. Định hướng này được duy trì trong các chính sách phòng chống HIV/AIDS.
Jha và cộng sự (2001) minh họa tác động của việc phòng ngừa HIV đối với việc sử dụng bao cao su ở người bán dâm giúp giảm tỷ lệ nhiễm HIV. Giới tính Giới tính là một trong những yếu tố hàng đầu có ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm HIV. Phụ nữ bị nhiễm HIV nhiều hơn nam giới và thường họ bị nhiễm bệnh ở độ tuổi sớm (ECA, 2009). Phụ nữ trẻ ở độ tuổi 15 - 24 đặc biệt dễ bị nhiễm bệnh vì lý do sinh học và cũng do các yếu tố kinh tế xã hội.
Ở Châu Phi, 76% thanh niên trong độ tuổi từ 15 đến 24 nhiễm HIV là nữ (ECA, 2009). Gần một nửa số người nhiễm HIV trên thế giới là phụ nữ (UNIFEM, 2008). Phụ nữ bán dâm là một nhóm dân số có nguy cơ mắc HIV cao hơn so với các nhóm khác trong dân số. Phụ nữ trẻ tuổi 15 tuổi 24 nhiều hơn có khả năng bị nhiễm bệnh cao gấp ba lần so với nam thanh niên (UNAIDS, 2006).
Nghèo đói Có một mối quan hệ rõ ràng giữa nghèo đói và sự lây lan của các bệnh truyền nhiễm và HIV, AIDS không phải là một ngoại lệ. Các hộ nghèo thường có ít tài chính hoặc tài sản khác và thường bị thiệt thòi về mặt chính trị và xã hội. Vì vậy, họ có xu hướng thiếu thông tin đầy đủ. Stillwaggon (2002) đã lưu ý, mọi người cũng về mặt sinh học dễ bị nhiễm HIV hơn khi con người bị suy dinh dưỡng và/hoặc bị nhiễm ký sinh trùng (làm suy yếu hệ thống miễn dịch), hai đặc điểm phổ biến hơn ở những người nghèo.
Thu nhập quốc dân Các trường hợp nhiễm HIV, AIDS đầu tiên đã được phát hiện ở các nước phát triển, nhưng dịch lan truyền nhanh nhất ở các nước nghèo. Lý do là các nước phát triển thực hiện tốt các biện pháp phòng ngừa và chăm sóc cho người bệnh, do đó làm giảm sự lây nhiễm của họ và số ca nhiễm mới. Trên toàn cầu, 90% các trường hợp nhiễm HIV mới xảy ra ở các nước nghèo (Lukas 2008). Mối liên hệ ngược chiều giữa thu nhập và tỷ lệ nhiễm HIV ở cấp quốc gia TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 phản ánh vai trò của cơ sở hạ tầng tốt hơn, tiếp cận các dịch vụ y tế và dinh dưỡng dường như đóng vai trò trong sự lây lan của căn bệnh này.
Ngoài ra, trong điều kiện nguồn lực tài chính có hạn, chính phủ các nước buộc phải lựa chọn giữa việc phòng ngừa HIV, AIDS hay các chương trình ưu tiên khác như là an ninh, giáo dục, môi trường (Ainsworth và Teokul, 1997). Khi kinh tế xã hội dễ bị tổn thương, khiến mọi người thực hiện các hành vi nguy cơ cao. Trong rất nhiều trường hợp, nghèo đói buộc phụ nữ tham gia buôn bán tình dục (UNIFEM, 2009). Bloom và cộng sự (2001) đã chứng minh rằng những khu vực nghèo nhất trong xã hội có ít kiến thức về cách lây truyền và phòng chống AIDS.
Nghèo đói cũng tác động đến lây truyền HIV thông qua việc tiếp cận ít hơn với các dịch vụ y tế (Stillwaggon, 2002). Tăng trưởng kinh tế Mặc dù giảm nghèo có thể được cho là làm giảm tỷ lệ nhiễm HIV AIDS, nhưng trong một số trường hợp, quá trình tăng trưởng kinh tế có thể dẫn đến làm gia tăng dịch bệnh. Tăng trưởng kinh tế gắn liền với phát triển cơ sở hạ tầng, đô thị hóa, tăng thu nhập khả dụng và tăng di cư. Hơn nữa, sự bất bình đẳng thường xuất hiện trong giai đoạn đầu của tăng trưởng kinh tế (Deaton và Lubotsky, 2001), tạo ra sự di cư.
Công nhân di cư đến các trung tâm thành phố lớn nơi có thu nhập cao và nhiều cơ hội việc làm. Đó là một yếu tố rủi ro đáng kể: đàn ông đi làm xa nhà, nhưng thỉnh thoảng trở về gia đình ở làng quê gốc. Do đó, sự tăng trưởng kinh tế có khả năng mang lại cơ hội lớn hơn cho các hoạt động mại dâm, tình dục không an toàn. Cuối cùng, sự bất bình đẳng có thể tạo ra những thay đổi trong quan hệ giới có thể tạo điều kiện cho sự lây lan của các bệnh lây truyền qua đường tình dục, trong đó có HIV AIDS (Farmer, 1999).
Đô thị hóa Khi người lao động nhập cư di chuyển từ khu vực nông thôn (có tỷ lệ nhiễm HIV thấp) đến các trung tâm đô thị, nơi tỷ lệ nhiễm HIV cao hơn nhiều và các hành vi rủi ro thường xuyên hơn. Khi đô thị hóa tăng lên, cơ sở hạ tầng ở các thành phố cần phải chào đón một dân số quan trọng hơn nhiều. Môi trường không lành mạnh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 (chỗ ở, không được tiếp cận với nước an toàn và vệ sinh kém) cùng với hệ thống y tế quá tải làm giảm thiểu vai trò ngăn chặn sự lây lan của các bệnh truyền nhiễm. Một bộ phận những người trẻ tuổi ở nông thôn đến các thành phố lớn có thể tham gia hoạt động mại dâm như một chiến lược sinh tồn nếu thất nghiệp trong thời gian dài.
Hajizadeh và cộng sự (2010) khi nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm HIV ở Kenya, Lesentine Uganda và Zambia cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV ở thành thị cao hơn so với nông thôn. HIV và di cư không có mối quan hệ tuyến tính nhưng được liên kết ngang, HIV là biểu hiện của sự bất bình đẳng và thiếu thốn mà người di cư phải đối mặt. Môi trường sống phức tạp và cô đơn, tách khỏi gia đình, thiếu tiếp cận thông tin, dịch vụ và hệ thống hỗ trợ xã hội có thể dẫn đến các hành vi không an toàn (tình dục không an toàn, tiêm chích ma túy) khiến họ dễ bị phơi nhiễm HIV hơn. Tuy nhiên, có thể lưu ý rằng bản thân việc di cư không phải là yếu tố dễ bị tổn thương đối với HIV, nhưng chính quá trình di chuyển không an toàn sẽ tạo ra các điều kiện dễ bị tổn thương (UNDP, 2006).
Giáo dục Một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc các bệnh truyền nhiễm là giáo dục. Lachaud (2007), khi nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm HIV ở Burkina-Faso đã nhận thấy, những người có học vấn sẽ bị ảnh hưởng bởi HIV ít hơn so với phần còn lại của dân số. Điều này có thể do nhiều lý do: đầu tiên, những người có học thức được thông báo tốt hơn về các biện pháp phòng ngừa. Giống như tiếp cận với chăm sóc sức khỏe, tiếp cận giáo dục là một phương tiện được thông báo về các phương pháp phòng ngừa, đặc biệt là nếu các chương trình giáo dục bao gồm giáo dục tình dục (Lachaud, 2007) Parker (1997) đã kết luận rằng 3/4 số người mới được chẩn đoán nhiễm HIV vào đầu những năm 1980 ở Brazil có một giáo dục trung học hoặc đại học, nhưng đến đầu những năm 1990, tỷ lệ này đã giảm xuống còn 1/3.
Kavita Singh và cộng sự (2013) cho rằng giáo dục và bình đẳng giới đang được thúc đẩy như là chiến TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 lược để chống lại dịch HIV tại Châu Phi và nhiều quốc gia đang phát triển trên thế giới.