chương 1 được trình bày với bố cục như sau: 1.1 Các công trình nghiên cứu quốc tế liên quan đến đề tài 1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài 1.3 Xác định khe hổng nghiên cứu và hướng nghiên cứu của luận văn 1. Các nghiên cứu quốc tế 2 Cùng với xu hướng phát triển của nền kinh tế nói chung và ngành tài chính nói riêng, Hệ thống thông tin đã trở thành đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới. Một số nghiên cứu đã cố gắng giải thích tác động gián tiếp của Hệ thống thông tin lên hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên nhiều phương diện khác nhau như theo đặc điểm của Hệ thống thông tin, theo các cấp độ công nghệ, theo nhóm ngành hoặc theo các loại chiến lược khác nhau (Budiarto et al. Đứng trên góc độ địa lý kinh tế, khá nhiều nghiên cứu cũng đã được triển khai tại các nước với đặc điểm kinh tế, xã hội và mức độ ứng dụng công nghệ thông tin khác nhau.
Một số khác lại nỗ lực chứng minh tác động trực tiếp của Kế toán hoặc Công nghệ thông tin lên hiệu quả hoạt động kinh doanh (Ismail, 2005). Tuy nhiên, ở giai đoạn sau này, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng chính sự phù hợp giữa Kế toán và Công nghệ thông tin với các yếu tố ngữ cảnh (contextual factors) mới chính là nhân tố có tác động đáng kể đến hiệu quả hoạt động kinh doanh. Ví dụ, Raymond et al. (1995) nhận thấy rằng các công ty có cơ cấu tổ chức phù hợp với cấu trúc công nghệ thông tin sẽ hoạt động có hiệu quả hơn.
Chan et al. (1997) và Cragg et al. (2002) cũng chứng minh rằng các doanh nghiệp điều chỉnh chiến lược công nghệ thông tin cho phù hợp với chiến lược kinh doanh sẽ đạt được hiệu quả hoạt động tốt hơn các doanh 2 Sơ đồ nghiên cứu bao gồm tên đầy đủ của các công trình nghiên cứu liên quan, quy mô, phạm vi, phương pháp, kết quả nghiên cứu.vv sẽ được trình bày cụ thể theo thứ tự thời gian tại Phụ lục 1.2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 nghiệp không thực hiện. Trong một nghiên cứu khác, Bergeron et al.
(2001) nhận thấy rằng sự phù hợp giữa định hướng chiến lược, cơ cấu tổ chức và chiến lược công nghệ thông tin có tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Kết quả của các nghiên cứu được đề cập ở trên đều cho thấy sự tồn tại của một mối liên hệ giữa sự phù hợp của Hệ thống thông tin với hiệu quả hoạt động kinh doanh. Dưới góc độ là hệ thống con phổ biến nhất của Hệ thống thông tin, kết luận này cũng đúng với Hệ thống thông tin kế toán. Có thể kể đến một số nghiên cứu chuyên sâu về Hệ thống thông tin kế toán như được trình bày tiếp theo đây.
Nghiên cứu được tiến hành trên 310 DNVVN tại Malaysia; dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát 19 đặc điểm của thông tin kế toán. Kết quả cho thấy một tỉ lệ đáng kể các DNVVN ở Malaysia đã có Hệ thống thông tin kế toán đạt được sự phù hợp cao, hơn thế nữa, nhóm các doanh nghiệp này còn đạt đươc hiệu quả hoạt động tốt hơn so với nhóm doanh nghiệp có mức độ phù hợp thấp – chứng tỏ một mối quan hệ tích cực giữa sự phù hợp của Hệ thống thông tin kế toán với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Phát hiện này đã cung cấp bằng chứng về tầm quan trọng của một Hệ thống thông tin kế toán phù hợp, đào sâu những hiểu biết về nhu cầu thông tin kế toán và việc sử dụng công nghệ thông tin như một công cụ xử lý thông tin quan trọng. Hơn thế nữa, nó còn mở ra hướng nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này không chỉ ở Malaysia mà còn trên toàn cầu.
Boulianne (2006) cũng nghiên cứu một vấn đề tương tự nhưng trên góc độ phân tích theo chiến lược. Trong nghiên cứu này, doanh nghiệp được xem xét theo chiến lược mà họ theo đuổi (dựa trên quan điểm phân loại đề xuất bởi Miles & Snow (1978)): chiến lược tìm kiếm (prospector strategic-types), chiến lược phòng vệ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Có một giả định cốt lõi trong nghiên cứu kế toán, rằng Hệ thống thông tin kế toán nào có thể cung cấp thông tin cần thiết cho các nhà quản lý và phù hợp với chiến lược theo đuổi - thì có liên quan đến hiệu quả kinh doanh cao hơn (Dehning & Richardson, 2002). Nghiên cứu của Boulianne (2006) đã củng cố cho giả định này, vì kết quả cuộc khảo sát và phân tích số liệu thứ cấp của 88 công ty ở Canada cho thấy rằng: đối với doanh nghiệp theo đuổi chiến lược tìm kiếm, một Hệ thống thông tin kế toán phạm vi rộng sẽ có liên quan đến kết quả kinh doanh tốt hơn.
Đối với doanh nghiệp theo đuổi chiến lược phòng vệ, kết quả cho thấy gần đây, họ có xu hướng sử dụng bộ thông tin rộng hơn cho việc ra quyết định. Nói cách khác, họ đã bắt đầu là có sự tiến triển về nhu cầu thông tin khi quan tâm đến thông tin bên ngoài, phi tài chính và định hướng tương lai để ra quyết định. Còn đối với các doanh nghiệp theo đuổi chiến lược phân tích, các kết quả thể hiện nhu cầu thông tin của họ khác hơn và phức tạp hơn so với hai doanh nghiệp trước. Bài báo này mở rộng nghiên cứu của Ismail & King (2005) khi dùng phương pháp đối sánh (matching perspective) để đo lường sự phù hợp – thay vì phương pháp điều tiết (moderation perspective).
Bên cạnh đó, Ismail & King dùng phương pháp đo lường chủ quan, dữ liệu chỉ được thu thập từ một cuộc khảo sát với một người trả lời trên mỗi doanh nghiệp; trong khi Boulianne dùng cả hai phương pháp - chủ quan và khách quan – lấy dữ liệu từ cả nghiên cứu khảo sát và dữ liệu thứ cấp thông qua hai người trả lời trên mỗi doanh nghiệp. Tính hiệu lực của các kết quả đã được cải thiện bằng cách sử dụng đa phương pháp tiếp cận, đa đối tượng khảo sát để phân loại chiến lược và đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Theo Boulianne, cách tiếp cận này làm giảm nguy cơ phản hồi thiên lệch và tăng tính hiệu lực của các biến. Grande et al.
(2011) tiến hành nghiên cứu thực nghiệm bằng một cuộc khảo sát trên 249 DNVVN ở Tây Ban Nha để đo lường mối quan hệ giữa việc ứng dụng Hệ thống thông tin kế toán với sự cải thiện các chỉ số đo lường hiệu quả (performance) và năng suất (productivity) của doanh nghiệp. Kết quả phân tích thống kê ANOVA đã cho thấy: các doanh nghiệp áp dụng Hệ thống thông tin kế toán cho toàn bộ công TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 tác quản lý có các chỉ số đo lường hiệu quả (ROA, ROE) cao hơn, tích cực hơn; còn nhóm những doanh nghiệp không sử dụng hoặc chỉ sử dụng một phần thì lại có kết quả từ trung bình tới âm. Điều này có nghĩa là những nỗ lực để áp dụng, đầu tư và nâng cấp Hệ thống thông tin kế toán của các DNVVN đã có tác động tích cực đến kết quả kinh tế & tài chính của họ. Tuy nhiên, phù hợp với lý thuyết ngẫu nhiên, kết quả này có thể là sự kết hợp của các biến bổ sung khác như văn hóa tổ chức và chiến lược dài hạn của công ty.
Chiến lược ưu tiên đầu tư vào Hệ thống thông tin kế toán và thúc đẩy việc sử dụng hệ thống này đòi hỏi văn hoá tổ chức phải song hành; điều quan trọng là các doanh nghiệp phải nhận thức được tác động của sự phù hợp này để đầu tư tương xứng với chiến lược kinh doanh. Soudani cũng đề cập đến vấn đề tác động của Hệ thống thông tin kế toán lên hiệu quả hoạt động trong một nghiên cứu được công bố vào năm 2012. Nghiên cứu này khảo sát 74 công ty tại Dubai (UAE) nhằm phân tích tác động của Hệ thống thông tin kế toán lên hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp thông qua các chỉ số tài chính như lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn CSH (ROE). So với nghiên cứu của Grande et al.
(2011) chỉ mới dừng lại ở bước phân tích ANOVA, thì tại nghiên cứu này, các giả thuyết đã được kiểm định bằng phân tích hồi quy. Kết quả cho thấy Hệ thống thông tin kế toán là biến có ảnh hưởng nhiều nhất đến hiệu quả tài chính (financial performance) thông qua các tác động của nó đối với việc cải tiến quá trình ra quyết định, nâng cao chất lượng thông tin kế toán, kiểm soát nội bộ và tạo điều kiện cho các giao dịch của công ty – do đó có tác động lên hiệu quả của tổ chức (organizational performance). Tuy nhiên, nghiên cứu này lại không tìm thấy mối quan hệ nào giữa Hệ thống thông tin kế toán và quản lý hiệu quả hoạt động (performance management). Điều này có nghĩa là có một số rào cản trong việc triển khai Hệ thống thông tin kế toán trên khía cạnh quản lý hiệu quả ở các công ty niêm yết tại thị trường tài chính Dubai, mà nếu không giải quyết được, có lẽ các công ty này sẽ không có hứng thú với những ưu điểm của Hệ thống thông tin kế toán.
Một nghiên cứu tổng kết lý thuyết của Budiarto et al. (2015) đã hệ thống các nghiên cứu về mối quan hệ giữa Hệ thống thông tin và hiệu quả hoạt động của nhóm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 doanh nghiệp vừa và nhỏ, cũng như điểm lại các nhân tố ảnh hưởng đến việc triển khai Hệ thống thông tin ở nhóm nghiệp này. Thông qua việc viện dẫn các nghiên cứu tại nhiều quốc gia có mức độ ứng dụng công nghệ thông tin khác nhau, ứng dụng các lý thuyết nền và các phương pháp nghiên cứu đo lường khác nhau, nhóm tác giả đã cung cấp một sơ đồ nghiên cứu khá phong phú cho các nghiên cứu học thuật và ứng dụng tiếp theo. Các nghiên cứu trong nước Một nghiên cứu lý thuyết của Nguyễn Mạnh Toàn và Huỳnh Thị Hồng Hạnh (2013) đã hệ thống các nghiên cứu trong và ngoài nước và giới thiệu sáu cách tiếp cận về khái niệm và bản chất của Hệ thống thông tin kế toán.