Chương 1: Giới thiệu đề tài Trong chương này, luận văn đề cập đến lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tác động của hành vi tránh thuế đến giá trị doanh nghiệp và tổng quan các nghiên cứu trước đây Trong chương này, luận văn khái quát khái niệm tránh thuế, lý thuyết về tránh thuế, cũng như đưa ra các lý thuyết để giải thích giá trị doanh nghiệp và ảnh hưởng của tránh thuế đến giá trị doanh nghiệp. Tiếp theo đó, trình bày tổng quan các nghiên cứu trước đây đối với mối quan hệ giữa hành vi tránh thuế và giá trị doanh nghiệp, cũng như các yếu tố tác động đến giá trị doanh nghiệp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Chương 03: Phương pháp nghiên cứu Để giải quyết được mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu, luận văn đưa ra mô hình nghiên cứu dựa vào phương pháp tiếp cận của các nghiên cứu trước đây, mô tả các biến số cũng như kỳ vọng về dấu của các biến độc lập.
Đồng thời, chương này cũng nêu ra dữ liệu nghiên cứu mà luận văn sử dụng, cũng như đề cập đến phương pháp ước lượng mà luận văn áp dụng để hồi quy mô hình nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu về tác động của hành vi tránh thuế đến giá trị doanh nghiệp tại Việt Nam Chương này của luận văn trình bày thống kê mô tả để có cái nhìn tổng quan đối với các biến được sử dụng trong mô hình nghiên cứu, cũng như lập ma trận tương quan để xem xét mối tương quan tuyến tính đơn biến giữa biến độc lập và biến phụ thuộc. Đồng thời, luận văn cũng kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến bởi hệ số VIF, kiểm định tự tương quan bằng Wooldridge và kiểm định phương sai thay đổi bằng Modified Wald. Cuối cùng, chương này trình bày kết quả hồi quy từ phương pháp ước lượng GMM và thảo luận các kết quả đạt được.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Chương này trình bày kết luận chính mà luận văn đạt được. Đồng thời dựa vào các kết quả tìm thấy, luận văn đưa ra các khuyến nghị nhằm giúp các doanh nghiệp cải thiện giá trị doanh nghiệp, cũng như giúp cho các nhà đầu tư nhận biết được các doanh nghiệp có giá trị doanh nghiệp cao trong danh mục đầu tư của các nhà đầu tư. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA HÀNH VI TRÁNH THUẾ ĐẾN GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.
Cơ sở lý thuyết và tổng quan về tác động của hành vi tránh thuế đến giá trị doanh nghiệp 2. Khái niệm tránh thuế Tránh thuế, như John Maynard Keynes gọi là “nỗ lực trí tuệ duy nhất đáng được thưởng”, là sự thay đổi hành vi của mình để giảm thiểu nghĩa vụ thuế. Tránh thuế không có gì sai trái đối với luật pháp. “Không có gì phạm pháp trong việc người ta tìm cách trả thuế càng ít theo khả năng của họ.
Tất cả mọi người đều làm như vậy, người giàu cũng như người nghèo, bởi vì không ai phải có nghĩa vụ thuế nhiều hơn luật pháp quy định” (Learned Hand, 1947, trang 444). Khó mà phân định rạch ròi giữa hành vi gian lận thuế - tức sự vi phạm pháp luật và hành vi tránh thuế - hay việc dùng luật để hạn chế đến mức tối thiểu việc nộp thuế. Về mặt lý thuyết, việc gian lận thuế và tránh thuế là khác nhau, nhưng cả hai đều dẫn đến việc thất thoát nguồn thu, khiến hệ thống thuế bị kém công bằng và làm bóp méo khuôn khổ cạnh tranh của thị trường. Những người nộp thuế được coi là gian lận thuế khi họ sử dụng những cách thức phi pháp để trốn nộp đầy đủ số nghĩa vụ thuế của mình.
Còn trong trường hợp tránh thuế, người nộp thuế lạm dụng những kẽ hở trong chế độ thuế hiện hành để giảm nghĩa vụ thuế. Mặc dù vẫn còn tranh cãi về sự tách biệt hoàn toàn giữa hai hành vi này hay nói cách khác, sự khác nhau hoàn toàn giữa chúng hầu như rất khó thuyết phục người khác. Trong một vài trường hợp nhất định, không thể thống nhất quan điểm với nhau khi xác định đó là hành vi gian lận thuế hay hành vi tránh thuế (Slemrod và Yitzhaki, 2000). Hanlon và Heitzman (2009) cho rằng hành vi tránh thuế được hiểu là việc giảm mức thuế phải nộp trên 1 đơn vị thu nhập trước thuế.
Tuy nhiên, vẫn không có định TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 nghĩa rõ ràng và nhất quán về hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp trong các tài liệu nghiên cứu trước đây. Nhìn chung, các tài liệu đều cho rằng hành vi tránh thuế phản ánh một chiến lược lập kế hoạch thuế một cách liên tục, bao gồm các hoạt động như: đầu tư trái phiếu, chi tiêu vốn, sử dụng các khoản nợ vay để tài trợ cho các hoạt động của doanh nghiệp hoặc các hoạt động chuyển giá… Vì thế, có thể thấy rằng hành vi tránh thuế của các nhà quản lý nhằm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp bằng việc giảm thiểu mức thuế phải nộp cho Chính phủ, từ đó giảm thiểu vấn đề đại diện giữa các cổ đông và các nhà quản lý của doanh nghiệp (Wang, 2012). Đồng thời, hành vi tránh thuế cũng có thể phản ánh được sự uy tín của các nhà quản lý cũng như triển vọng nghề nghiệp của họ trên thị trường lao động. Với các ưu điểm của việc tránh thuế, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành nhằm mục đích tìm hiểu lý do tại sao các doanh nghiệp lại thực hiện hành vi tránh thuế.
Các nghiên cứu này ban đầu tập trung vào yếu tố cơ hội tăng trưởng, động cơ và nguồn lực để các doanh nghiệp tiến hành lập kế hoạch thuế khi giải thích tại sao các doanh nghiệp thực hiện hành vi tránh thuế (Rego, 2003). Trong khi đó, các nghiên cứu gần đây đã mở rộng chủ đề này bằng cách phân tích ảnh hưởng của vấn đề đại diện giữa các cổ đông và các nhà quản lý đến hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp. Theo các nghiên cứu trước đây, khi phân tích hành vi tránh thuế, có hai cách đo lường đã được sử dụng để đại diện cho hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp. Cách đo lường đầu tiên là chênh lệch thuế sổ sách (book-tax difference) được xác định như là chênh lệch giữa thu nhập hoạt động và thu nhập chịu thuế (Desai và Dharmapala, 2009).
Cách đo lường thứ hai là tỷ lệ thuế suất có hiệu lực (effective tax rate) được xác định như là tỷ lệ chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp trên thu nhập trước thuế (Bradshaw và các cộng sự, 2013). Luận văn áp dụng cách đo lường hành vi tránh thuế của Desai và Dharmapala (2009) để phân tích tác động của hành vi tránh thuế đến giá trị doanh nghiệp của các doanh nghiệp. Giá trị của doanh nghiệp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Giá trị doanh nghiệp nhìn chung là một giá trị đo lường hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp (Sarma và Rao, 1969; Grossman và Stiglitz, 1977). Theo Ehrahard và Bringham (2003), giá trị doanh nghiệp là tổng giá trị của các bên liên quan với doanh nghiệp bao gồm: các chủ nợ và các cổ đông.
Giá trị doanh nghiệp là một trong các thước đo cơ bản được sử dụng trong việc định giá doanh nghiệp, mô hình tài chính, kế toán, phân tích danh mục… Bên cạnh đó, để đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thì có nhiều cách đo lường, tỷ lệ, chỉ tiêu đã được đưa ra, trong đó phải kể đến: tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên đầu tư (ROI) và giá trị doanh nghiệp Tobin’s Q. Trong số các chỉ tiêu này, thì giá trị doanh nghiệp Tobin’s Q là một đo lường kinh tế phản ánh giá trị thị trường của một tổ chức kinh doanh (Kurshev và Strebulaev, 2007) và giá trị là một sự liên kết giữa các giá trị thị trường của doanh nghiệp với giá trị sổ sách của một doanh nghiệp (Võ Minh Long, 2017). Nhiều nghiên cứu trước đây cũng đã sử dụng chỉ tiêu này như là một cách đo lường giá trị doanh nghiệp, các nghiên cứu này bao gồm Cheng và các cộng sự (2010), Đỗ Văn Thắng và Trịnh Quang Thiều (2010), Karaca và Savsar (2012), Mohammad và các cộng sự (2013), Võ Minh Long (2017). Mặt khác, để tính toán giá trị Tobin’s Q này thì có nhiều cách tính toán nhưng trong số đó phải kể đến ba cách đo lường của Lindenberg và Ross (1981), Chung và Pruitt (1994), và Oxelheim và Randoy (2001).
Cách đo lường đầu tiên và cũng được xem là khó nhất trong các cách tính toán giá trị Tobin’s Q là của Lindenberg và Ross (1981), theo đó giá trị Tobin’s Q được tính theo công thức sau: Trong đó: PREFST thể hiện giá trị các cổ phần ưu đãi của doanh nghiệp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 VCOMS thể hiện giá trị cổ phần thông thường khi được tính bởi giá cổ phiếu cuối năm nhân với số lượng cổ phiếu đang lưu hành ở thời điểm cuối năm. LTDEBT thể hiện giá trị của nợ dài hạn của doanh nghiệp như được điều chỉnh theo cấu trúc tuổi của doanh nghiệp. STDEBT thể hiện giá trị sổ sách của nghĩa vụ nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.
ADJ thể hiện giá trị của các tài sản ngắn hạn ròng của doanh nghiệp. TOTASST thể hiện giá trị sổ sách của tổng tài sản của doanh nghiệp. BKCAP thể hiện giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. NETCAP thể hiện giá trị vốn chủ sở hữu ròng được điều chỉnh bởi lạm phát.
Cách tính của Lindenberg và Ross (1981) được cho rằng là khó nhất trong các cách đo lường do cách tính này yêu cầu tương đối nhiều dữ liệu so với các cách tính khác. Sau đó, Chung và Pruitt (1994) đã phát triển một cách đo lường khác với việc sử dụng ít dữ liệu hơn nhưng có giá trị tính toán ra xấp xỉ với giá trị của Lindenberg và Ross (1981), cụ thể, cách tính của Chung và Pruitt (1994) tối thiểu gần giống với 96.6% trong sự thay đổi của giá trị Tobin’s Q của Lindenberg và Ross (1981). Giá trị Tobin’s Q của Chung và Pruitt (1994) được tính như sau: Trong đó: MVE thể hiện giá trị thị trường của vốn cổ phần khi được tính bởi giá cổ phiếu cuối năm nhân với số lượng cổ phần đang lưu hành ở thời điểm cuối năm. PS thể hiện giá trị của cổ phiếu ưu đãi.