mở đầu cho nội dung nghiên cứu như vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu … Trong chương 2 này sẽ trình bày tổng quan về lý thuyết, nghiên cứu trước đây về yếu tố tiền mặt và giá trị doanh nghiệp, xem xét các nghiên cứu trước và đề xuất mô hình nghiên cứu phù hợp. Việc nghiên cứu việc tác động giữa tiền mặt và giá trị doanh nghiệp là việc làm cần thiết để giúp các nhà quản trị có cơ sở trong việc đưa ra quyết định điều hành, nhằm gia tăng giá trị doanh nghiệp, nhất là đối với các công ty niêm yết.1 Tổng quan lý luận về tiền mặt 2.1 Nắm giữ tiền mặt Trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp, Nguyễn Minh Kiều ( 2010) đã đưa ra khái niệm tiền mặt bao gồm: Tiền mặt tại quỹ của doanh nghiệp và tiền trên tài khoản thanh toán của doanh nghiệp ở ngân hàng; còn các loại chứng khoán đầu tư ngắn hạn xem như tài sản tương đương tiền mặt một cách có hiệu quả. Còn theo Cristina cùng các cộng sự (2013) đưa ra khái niệm: tiền mặt được đo bằng tiền mặt và tương đương tiền mặt của doanh nghiệp/ Tổng tài sản. Đưa ra quyết định nắm giữ một lượng tiền mặt trong doanh nghiệp hoặc các quyết định liên quan đến tài sản tài chính có tính thanh khoản cao sẽ ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp, trong một thị trường không hiệu quả.
Ngoài ra, nắm giữ tiền mặt và tài khoản có tính thanh khoản cao luôn có đánh đổi giữa lợi ích và chi phí. Những cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm đã cho thấy mối quan hệ giữa lượng tiền nắm giữ sẽ ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp thông qua sự đánh đổi này. Việc nắm giữ tiền mặt trong doanh nghiệp sẽ làm phát sinh các loại chi phí sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 (i) Chi phí nắm giữ: do tỷ lệ sinh lời trực tiếp trên tiền mặt bằng không cộng với ảnh hưởng của lạm phát. (ii) Chi phí cơ hội: chính là khoản lợi nhuận có thể có được nếu đem tiền mặt đi đầu tư.
Chi phí cơ hội có thể được tính bằng khoản lợi tức thông qua lãi suất của chứng khoán ngắn hạn có tính thanh khoản cao. Chính vì vậy các doanh nghiệp luôn phải cân nhắc giữa các chi phí bỏ ra với việc nắm giữ tiền mặt cho các nhu cầu hoạt động của mình.2 Động cơ nắm giữ tiền mặt Động cơ doanh nghiệp nắm giữ tiền mặt như sau: (i) Động cơ hoạt động, giao dịch: mức tồn quỹ tiền mặt được hoạch định để đáp ứng kịp thời các khoản chi tiêu phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Theo Opler và cộng sự (1999), chi phí giao dịch khi huy động vốn bên ngoài rất cao, bởi vì các chi phí cố định để tiếp cận nguồn vốn từ thị trường thường cao hơn chi phí nắm giữ tiền mặt. Nói cách khác doanh nghiệp sẽ nắm giữ tiền mặt để tránh trường hợp chi phí chuyển đổi từ tài sản phi tiền mặt sang tài khoản tiền mặt cao hơn chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền mặt.
Như vậy có thể ví dự trữ tiền mặt là tấm đệm cho doanh nghiệp khi doanh nghiệp thiếu tiền và hạn chế nguy cơ mất đi cơ hội đầu tư. (ii) Động cơ dự trữ: là một hành động dự phòng trước khả năng gia tăng nhu cầu chi tiêu do tăng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc nhanh chóng đáp ứng những cơ hội kinh doanh đột xuất. Các nhà nghiên cứu dựa trên những nguyên nhân chính đó là kiệt quệ tài chính và mục tiêu giảm thiểu rủi ro cho những tình huống bất ngờ mà không dự liệu trước được. Theo nghiên cứu của Almeida và cộng sự ( 2004) cho thấy những doanh nghiệp hạn chế về tài chính, động cơ phòng ngừa chính là nguyên nhân chính để doanh nghiệp dự trữ tiền mặt.
Dựa trên động cơ giảm thiểu rủi ro, nghiên cứu của Liu và các cộng sự (2010) tìm thấy động cơ giảm rủi ro tăng thì thì doanh nghiệp có xu hướng nắm giữ tiền mặt cao.3 Các yếu tố tác động đến nắm giữ tiền mặt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Theo các nhà nghiên cứu trên thế giới, các yếu tố tác động đến nắm giữ tiền mặt là: - Quy mô: Theo Opler (1999), quy mô doanh nghiệp càng nhỏ thì giữ nhiều tiền. Ngược lại, Ferreira và Vilela (2004), Afza và Adnan (2007) tương quan dương. Còn theo Saddour (2006) quy mô ngược chiều với việc nắm giữ tiền mặt ở công ty tăng trưởng, cùng chiều ở công ty bão hòa. Theo tình hình chung, quy mô công ty càng lớn thì thương hiệu của công ty đó càng mạnh.
Lợi thế trong nguồn tổng tài sản cho thấy quy mô càng cao giá trị doanh nghiệp càng lớn. Vì thế trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Liên Hoa và các cộng sự cũng đã cho thấy mối tương quan sâu sắc giữa quy mô và giá trị doanh nghiệp. - Cơ hội tăng trưởng: Opler (1999), Hofmanm (2006) cho rằng doanh nghiệp có nhiều cơ hội tăng trưởng thì nắm giữ nhiều tiền hơn. Trong khi đó, Afza và Adnan (2007) lại kết luận ngược lại.
Theo kết quả nghiên cứu của Harford ( 1999) thấy rằng các doanh nghiệp có dự trữ tiền mặt lớn không chỉ có khả năng thanh khoản mà còn có khả năng thâu tóm công ty khác hơn, điều này ngụ ý khả năng gia tăng mức độ tăng trưởng của doanh nghiệp rất cao. - Rủi ro của doanh nghiệp: Opler (1999) kết luận rủi ro của doanh nghiệp càng nhiều thì càng nắm giữ nhiều tiền. Rủi ro doanh nghiệp là các sự kiện có khả năng làm cho doanh nghiệp bị thiệt hại hoặc thực tế đã gây ra nhiều thiệt hại về mặt lợi ích. Đứng trên góc độ ảnh hưởng của việc nắm giữ tiền mặt, thì rủi ro của việc thiếu tiền hay thừa tiền đều mang đến những tác hại liên đới tới tình hình hoạt động của doanh nghiệp.
- Công ty hoạt động tốt: Theo Opler (1999), Faulkender (2002), Ozkan (2002) các công ty hoạt động tốt thì nắm giữ nhiều tiền mặt hơn. Mikkelson và Partch (2003) tìm thấy bằng chứng hỗ trợ cho nhu cầu dự trữ tiền mặt lớn, họ thấy rằng lượng tiền mặt được nắm giữ cao liên tục trong 5 năm được đi kèm với đầu tư nhiều hơn và tăng trưởng cao hơn trong tài sản mà không ảnh hưởng đến hiệu suất của công ty. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 - Mức độ thanh khoản: Ferreira và Vilela (2004) cho rằng doanh nghiệp có tài sản thanh khoản tốt thì giữ càng nhiều tiền mặt. Faulkender và Wang (2006) tính thanh khoản của công ty làm giảm khả năng phát sinh chi phí khủng hoảng tài chính, nếu hoạt động của công ty không tạo ra dòng tiền đủ để thanh toán các khoản nợ bắt buộc.
- Đòn bẩy: theo Ferreira và Vilela (2004) doanh nghiệp sử dụng nhiều đòn bẩy tài chính thì cũng nắm giữ nhiều tiền mặt, tuy nhiên trong một nghiên cứu khác của Afza và Adnan ( 2007) thì tìm thấy điều ngược lại, khi doanh nghiệp sử dụng nhiều đòn bẩy tài chính thì nắm giữ ít tiền mặt. - Dòng tiền: Theo lý thuyết trật tự phân hạng, các doanh nghiệp thích tài trợ nội bộ hơn là tài trợ bên ngoài. Do đó, các doanh nghiệp có dòng tiền lớn hơn sẽ nắm giữ lượng tiền mặt nhiều hơn, như là một nguồn quỹ để tài trợ nội bộ. Do đó dự kiến một mối tương quan dương với giá trị doanh nghiệp.2 Giá trị doanh nghiệp 2.1 Khái niệm Giá trị doanh nghiệp được định nghĩa là sự biểu hiện bằng tiền tại một thời điểm nhất định về các khoản thu nhập mà doanh nghiệp có thể mang lại cho các nhà đầu tư trong quá trình kinh doanh.
Theo quan niệm của học thuyết Mác, giá trị doanh nghiệp là giá trị của toàn bộ các tài sản (hữu hình và vô hình) thuộc quyền sở hữu hiện tại của doanh nghiệp. Với Modigliani và Miller, giá trị doanh nghiệp được xác định bằng tài sản thực, không phải bằng các chứng khoán mà doanh nghiệp phát hành. Giá trị của doanh nghiệp có nợ vay và không có nợ vay là như nhau. Vì vậy, không có cơ cấu vốn tối ưu và doanh nghiệp không thể tăng giá trị bằng cách thay đổi cơ cấu vốn của nó.
Giá trị của mỗi tài sản cấu thành tổng tài sản của doanh nghiệp không thể tách rời nhau và cũng không thể thẩm định trên cơ sở giá trị thị trường. Giá trị doanh nghiệp phải được xem xét trên tổng thể tài sản, không phải là giá trị của từng tài sản riêng rẽ, bao gồm tài sản hữu hình và tài sản sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp. Không đơn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 giản là tập hợp của những tài sản vô tri vô giá, giá trị sử dụng của chúng bị giảm dần theo thời gian. Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế, là một thực thể hoạt động, có thể hoàn chỉnh và phát triển trong tương lai.
Sự phát triển của doanh nghiệp tùy thuộc vào các mối quan hệ của doanh nghiệp với môi trường. Vì vậy, đánh giá về doanh nghiệp nói chung và giá trị doanh nghiệp nói riêng đòi hỏi phải xem xét tất các mối quan hệ bên trong và bên ngoài – đánh giá doanh nghiệp về mặt tổ chức. Theo Nguyễn Thị Cành (2009), giá trị doanh nghiệp được đo bằng tổng vốn hóa thị trường của cổ phiếu thường, nợ, cổ phiếu ưu đãi và lợi nhuận của cổ đông thiểu số trừ cho tổng tiền mặt và các khoản tương đương tiền. Nhà đầu tư sở hữu doanh nghiệp vì mục tiêu lợi nhuận.
Các tài sản cố định, tài sản lưu động, bộ máy kinh doanh là cách thức, là phương tiện để đạt mục tiêu lợi nhuận. Tiêu chuẩn để nhà đầu tư đánh giá hiệu quả hoạt động, quyết định bỏ vốn và đánh giá giá trị doanh nghiệp là các khoản thu nhập mà doanh nghiệp có thể mang lại cho nhà đầu tư trong tương lai. Một cách chung nhất, giá trị doanh nghiệp được đo bằng độ lớn của các khoản thu nhập mà DN đem lại cho nhà đầu tư. Do đó giá trị doanh nghiệp khác với giá bán doanh nghiệp_được đo bằng cung, cầu “hàng hoá DN”.
Giá trị doanh nghiệp vẫn tồn tại ngay cả khi không có hoạt động mua- bán DN, mà nó chủ yếu được coi như một tiêu chí đánh giá các khoản thu nhập DN có khả năng đưa lại. Giá trị doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố, trong đó nhiều nhân tố đòi hỏi sự đánh giá chủ quan, biến động, khó định lượng.