MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết Nhiều nghiên cứu đã được tiến hành trên toàn thế giới để xác định mối quan hệ giữa chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp, trong đó nghiên cứu đáng chú ý nhất được thực hiện bởi Miller & Modigliani (1961). Theo lý thuyết của họ, trong điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo, không có mối quan hệ nào giữa chính sách cổ tức và giá trị thị trường của doanh nghiệp. Lý thuyết này đã tạo ra nhiều cuộc tranh luận và có nhiều nghiên cứu chuyên sâu đã được thực hiện để kiểm tra nó.
Trong khi một số nhà nghiên cứu ủng hộ lý thuyết này như Black & Scholes (1974), Miller & Rock (1985), vẫn có một số nghiên cứu khác lại phản đối, chẳng hạn Dyl & Weigand (1998) hay Litzenberger & Ramaswamy (1979). Những quan điểm trái ngược nhau này đã dẫn đến sự mơ hồ và cần có nghiên cứu rõ ràng dựa trên KQNC thực nghiệm. Chính sách chi trả cổ tức là chính sách mà doanh nghiệp sử dụng để xây dựng kế hoạch về việc phân chia lợi nhuận theo cách tối ưu hoá hiệu quả kinh tế. Đối với chính sách chi trả cổ tức (CTCT), vấn đề chính của các nhà quản trị là việc phải đưa ra lựa chọn giữa việc sử dụng phần LN của DN để CTCT hay tiếp tục tái đầu tư vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Việc đưa ra các chính sách CTCT khác nhau có thể làm ảnh hưởng tới giá cổ phiếu (CP) hay giá trị của DN. Thêm vào đó, quyết định CTCT cũng tác động trực tiếp đến nguồn thu của các NĐT, từ đó tạo ra hiệu ứng tâm lý với nhóm đối tượng này. Nếu đứng trên góc nhìn của DN, việc giữ lại LN để đầu tư vào các dự án tiềm năng hoặc tái đầu tư để nâng cao hiệu quả sản xuất là phương án giúp mở rộng quy mô và nâng cao giá trị DN, thì đối với các NĐT, hay cụ thể là các cổ đông của DN, lại thường mong đợi tỷ lệ CTCT nhất định đối với DN mà họ đã đầu tư. Bên cạnh khoản thu nhập từ đầu cơ chênh lệch giá của CP trên TTCK, cổ tức mà cổ đông nhận được là một phần nguồn thu của họ.
Vì vậy, các quyết định về việc CTCT cũng có thể ảnh hưởng đến tâm lý và niềm tin của NĐT đối với DN mà mình lựa chọn. Một chính sách CTCT hiệu quả 1 có thể giữ chân những cổ đông hiện hữu và thu hút các NĐT mới. Điều này ảnh hưởng đến nguồn vốn mà DN có thể thu hút trên thị trường và hỗ trợ cho các hoạt động kinh doanh, giúp cho DN nâng cao giá trị trong thời gian tới. Nhiều học thuyết và nghiên cứu đã được thực hiện ở Việt Nam và trên thế giới nhằm chứng minh tầm quan trọng của các quyết định CTCT và mối liên hệ chặt chẽ giữa chính sách cổ tức và giá trị DN.
Có nhiều quan điểm khác nhau về cách chính sách cổ tức ảnh hưởng đến giá trị của DN. Học thuyết của Miller & Modigliani (1961) là một trong những học thuyết điển hình cho rằng giá trị của DN không bị ảnh hưởng bởi chính sách cổ tức. Ngược lại, các học thuyết và nghiên cứu khác, chẳng hạn như Linter (1956), cho rằng các chính sách CTCT hiệu quả có thể nâng cao giá trị của một DN. Tuy nhiên, MQH giữa chính sách cổ tức và GTDN có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố và tác động của các yếu tố có thể khác nhau giữa các thị trường và các giai đoạn.
Đặc biệt, NKT toàn cầu giai đoạn 2020-2022 đã phải đối mặt với một sự kiện “Thiên nga đen” - cuộc khủng hoảng lớn xảy ra trên diện rộng do đại dịch Covid-19 gây ra. Dưới tác động của dịch bệnh, NKT thế giới có nhiều biến động và tác giả có cơ sở để tin rằng MQH giữa chính sách CTCT và GTDN có thể sẽ có những thay đổi trong mức độ tác động. Đề tài “Mối quan hệ giữa chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp: góc nhìn từ các DN ngành sản xuất niêm yết trên TTCK Việt Nam” đã được tác giả lựa chọn cho khoá luận tốt nghiệp của mình với mục tiêu xác định sự xuất hiện của đại dịch Covid-19 có làm thay đổi MQH nghiên cứu hay không, từ đó giúp các DN có thể đưa ra những quyết định tối ưu trong việc đưa ra các chính sách CTCT, đặc biệt là trong giai đoạn tình hình kinh tế có nhiều biến động như hiện nay. Từ đó, hỗ trợ nâng cao GTDN và tối ưu hóa LN.
Mục tiêu nghiên cứu Khoá luận này tập trung nghiên cứu vào tác động của chính sách chi trả cổ tức đến giá trị của các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam từ năm 2015-2023. Mục tiêu chính để tìm hiểu về mức độ ảnh hưởng của chính sách CTCT đến GTDN như thế nào, theo chiều hướng ra sao. Từ đó giúp cho các nhà hoạt động tài chính, ban 2 lãnh đạo các DN có thể tham khảo để có thể đưa ra các chính sách phù hợp, sao cho nâng cao được giá trị của DN mình. Bên cạnh đó, bài khoá luận cũng nghiên cứu thêm các nhân bố khác bên cạnh các nhân tố về chính sách CTCT để có kết quả bao quát và sát với thực tế hơn.
Từ đó cũng có thêm khía cạnh để các nhà quản trị tham khảo áp dụng cho doanh nghiệp mình. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận sử dụng dữ liệu bảng và các mô hình hồi quy bao gồm: Pooled OLS; MH hiệu ứng cố định (FEM); MH tác động ngẫu nhiên (REM). Nghiên cứu cũng áp dụng kiểm định như Hausman để xác định MH hồi quy phù hợp và các kiểm định phương sai sai số thay đổi (PSSSTĐ) Wald và kiểm định tự tương quan (TTQ) cứu cũng kiểm tra tính đa cộng tuyến (ĐCT) giữa các biến độc lập. Phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (FGLS) cũng được sử dụng nhằm khắc phục các khuyết tật của MH.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về mối quan hệ giữa chính sách cổ tức của các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam và giá trị của các doanh nghiệp đó. - Phạm vi nghiên cứu: + Không gian: Các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam gồm có các doanh nghiệp niêm yết trên sàn HNX, HOSE và các doanh nghiệp trên sàn UPCOM. Điểm mới của khoá luận Thứ nhất, chủ đề nghiên cứu về mối quan hệ giữa chính sách chi trả cổ tức và giá trị doanh nghiệp tại thị trường Việt Nam cho tới nay vẫn chưa có nhiều và hầu hết đều nghiên cứu nhiều ngành trên thị trường với mục tiêu có thể bao quát toàn nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên các nghiên cứu đó đều chưa thực sự bao phủ đầy đủ tất cả các ngành trong nền kinh tế.
Vì thế, có thể đánh giá các nghiên cứu đi trước đã có độ rộng nhưng chưa đủ sâu. Trong khoá luận này, tác giả tập trung vào một ngành 3 duy nhất là ngành Sản xuất để đi sâu vào phân tích liệu những đặc thù của ngành sản xuất có đem lại kết quả mới so với các nghiên cứu đi trước hay không. Thứ hai, nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu được cập nhật mới nhất từ 2015 đến 2023 về các DN ngành Sản xuất tại Việt Nam, gồm cả các DN đã niêm yết trên HOSE, HNX và cả các DN đang chờ niêm yết trên UPCOM. So với các nghiên cứu trước đây tại thị trường Việt Nam, hầu hết đều chỉ sử dụng tập dữ liệu gồm các doanh nghiệp lớn đã niêm yết trên HNX, HOSE và từ đó rút ra kết luận cho cả ngành hay cả nền kinh tế.
Như vậy chưa thực sự phù hợp vì thị trường Việt Nam gồm rất nhiều các DN vừa và nhỏ chưa niêm yết. Từ đó, khoá luận đã quyết định đưa thêm các doanh nghiệp chưa niêm yết trên UPCOM vào bộ dữ liệu nghiên cứu để củng cố độ tin cậy và ý nghĩa thực tế cho KQNC. Thứ ba, về các chỉ số đại diện cho chính sách chi trả cổ tức, nghiên cứu vẫn sử dụng các chỉ số mang tính đại diện nhất như tỷ lệ chi trả cổ tức và tỷ suất lợi tức như các nghiên cứu trước đây. Tuy nhiên, nhận thấy ngành sản xuất có những đặc trưng riêng nên khoá luận đã sử dụng thêm một số biến kiểm soát mới so với các nghiên cứu trước để xem liệu chúng có tác động đến giá trị doanh nghiệp không.
Các biến kiểm soát mới gồm có vòng quay hàng tổn kho và sự có mặt của vốn nhà nước. Thêm vào đó, khoá luận cũng sử dụng thêm một biến giả về dịch bệnh Covid-19 xảy ra trong thời gian vừa qua để cập nhật tính mới cho đề tài. Kết cấu của khoá luận Chương 1: Cơ sở lý luận Chương 2: Tổng quan nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả và thảo luận Chương 5: Tóm tắt, khuyến nghị, hạn chế và đề xuất 4 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Chính sách chi trả cổ tức 1.
Cổ tức và chính sách cổ tức a. Cổ tức Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2020, cổ tức là khoản LN ròng được trả cho mỗi cổ phần bằng tiền mặt hoặc bằng tài sản khác từ nguồn lợi nhuận còn lại của doanh nghiệp sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài chính. Nói cách khác, cổ tức được xem là việc phân phối lợi nhuận của công ty tới các cổ đông. Mục đích cơ bản của bất kỳ công việc kinh doanh nào là tạo ra LN cho những chủ sở hữu của nó, và cổ tức là một trong những vấn đề được quan tâm nhất của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán.
Khi công việc kinh doanh của DN tạo ra LN, một phần LN được tái đầu tư vào việc kinh doanh và lập các quỹ dự phòng, gọi là LN giữ lại. Phần LN còn lại được chi trả cho các cổ đông, gọi là cổ tức. Việc thanh toán cổ tức bằng tiền mặt có thể sẽ làm giảm lượng tiền lưu thông đối với công việc kinh doanh và tạo ra LN cho các cổ đông. Một doanh nghiệp cổ phần chỉ có quyền trả cổ tức cho các cổ đông nếu doanh nghiệp đáp ứng các nghĩa vụ tài chính và thuế theo luật định.
Cung cấp các quỹ của doanh nghiệp và thu hồi đầy đủ các khoản lỗ trước đây theo các quy định pháp luật và các điều khoản của doanh nghiệp. Ngay cả sau khi trả cổ tức đầy đủ, doanh nghiệp phải đảm bảo thanh toán tất cả các khoản nợ chưa thanh toán và các nghĩa vụ tài chính khác.