Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây Chương 3: Phương pháp nghiên cứu trình bày mô hình nghiên cứu, mô tả các biến và dữ liệu nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu trình bày và phân tích kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.
Cơ chế truyền dẫn của biến động giá dầu thô lên các hoạt động kinh tế vĩ mô. Sản lượng giảm Thất nghiệp tăng Giá dầu tăng Trong ngắn hạn Thu nhập giảm Sản lượng giảm Trong dài hạn Lạm phát tăng PPI tăng Lợi nhuận Đầu tư giảm giảm Cầu tiền giảm Lãi suất giảm Chi phí sản xuất Cầu tiền giảm CPI Tăng Chi tiêu tăng Lãi suất giảm Chính sách tiền tệ Lãi suất tăng Đầu tư giảm Sản lượng giảm Kiểm soát lạm phát trong dài hạn Hình 2.1 Sơ đồ kênh truyền dẫn của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế vĩ mô. Nguồn: Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Liên Hoa (2012) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Liên Hoa (2012), dựa trên nghiên cứu của Brown và Yucel (2002) và Tang và cộng sự (2010) đã đề cập đến kênh truyền dẫn của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế vĩ mô, sơ đồ hình 2.1 giải thích sự thay đổi giá dầu lên các nền kinh tế thông qua các kênh truyền dẫn chính như sau: Cú sốc cung dầu: Sự gia tăng giá dầu có thể được xem là một chỉ báo từ một cú sốc trong tổng nguồn cung dầu. Sự gia tăng giá chính là báo hiệu sự khan hiếm của nguồn năng lượng vốn được xem là nguyên liệu đầu vào cơ bản của sản xuất.
Do đó, tốc độ tăng trưởng sản lượng và năng suất của các ngành công nghiệp sẽ sụt giảm. Điều này dẫn đến giảm mức tăng lương thực và tăng tỷ lệ thất nghiệp. Như vậy, dựa trên quan điểm này, cùng với kết luận của Kilian (2009) và Filis. Và khi giá dầu thay đổi sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô.
Hiệu ứng chuyển giao thu nhập và tổng cầu: Cú sốc giá dầu có thể tác động đến hoạt động kinh tế thông qua hiệu ứng chuyển giao sức mua từ những nước nhập khẩu dầu thô sang những nước xuất khẩu dầu thô khi giá tăng, như trong nghiên cứu của Fried và Schulze (1975) và Dohner (1981). Sự gia tăng giá dầu sẽ chuyển giao thu nhập từ các nước nhập khẩu dầu thô sang các nước xuất khẩu dầu thô, điều này làm giảm cầu tiêu dùng ở nước nhập khẩu và tăng cầu ở nước xuất khẩu, tuy nhiên mức độ tăng lại ít hơn, điều này làm tổng cầu của cả thế giới đối với sản phẩm của nước nhập khẩu giảm, làm tăng cung tiết kiệm. Cung tiết kiệm tăng gây áp lực giảm lãi suất thực, và mức giảm này có thể lấn át mức tăng lãi suất thực do người tiêu dùng ổn định chi tiêu. Lãi suất giảm sẽ kích thích đầu tư, điều này sẽ bù đắp cho mức giảm trong tiêu dùng, vì vậy tổng cầu không thay đổi ở các nước nhập khẩu dầu thô.
Tuy nhiên, nếu giá cả khó điều TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 chỉnh giảm, sự sụt giảm trong tiêu dùng hàng hóa sản xuất ở những nước nhập khẩu dầu mỏ sẽ làm tăng trưởng GDP giảm hơn nữa. Tiêu dùng giảm sẽ tạo áp lực làm giá giảm về điểm cân bằng mới. Như vậy, giá dầu thay đổi làm tổng nhu cầu dầu mỏ thay đổi theo. Khi nhu cầu tiêu thụ dầu mỏ sụt giảm sẽ tạo ra áp lực làm giá giảm về điểm cân bằng mới (dựa trên lý thuyết về cung cầu hàng hóa).
Đây cũng có thể chính là cú sốc dầu mỏ (aggregate demand shock), theo như quan điểm của Kilian (2009). Khi cú sốc này sẽ tạo nên sự truyền dẫn đến nền kinh tế vĩ mô. Áp lực lạm phát: giá dầu tăng sẽ tạo áp lực tăng lạm phát trong nền kinh tế. Có thể giải thích điều này thông qua lý thuyết lạm phát do chi phí đẩy.
Theo lý thuyết lạm phát do chi phí đẩy, ba loại chi phí thường gây ra lạm phát là: tiền lương, thuế gián thu và giá nguyên liệu nhập khẩu. Dầu được xem là nguyên liệu nhập khẩu đầu vào của mọi ngành sản xuất kinh doanh. Khi giá dầu tăng, kỳ vọng lạm phát sẽ tăng, do chi phí đầu vào doanh nghiệp tăng. Tiếp theo đó, khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bị thu hẹp do chi phí đầu vào tăng.
Theo thời gian, nếu giá dầu tiếp tục tăng cao sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng và các giá trị doanh nghiệp. Như vậy, khi lạm phát tăng xuất phát từ cú sốc tăng giá dầu thì chi phí sản xuất tăng, làm giảm lợi nhuận và đầu tư cũng giảm theo. Nếu người dân nhìn nhận đây là một cú sốc ngắn hạn, họ sẽ giữ ổn định chi tiêu bằng cách tiết kiệm ít hơn và tăng vay mượn, điều này làm tăng lãi suất thực cân bằng. Tăng trưởng sản lượng chậm lại, lãi suất thực tăng sẽ làm giảm lượng cầu đối với số dư tiền mặt thực tế, và với mức tăng trưởng cung tiền nhất định, tỷ lệ lạm phát sẽ tăng.
Như vậy, giá dầu tăng sẽ làm giảm tăng trưởng GDP, làm tăng lãi suất thực và nguy cơ tăng lạm phát. Nếu người dân và các nhà sản xuất nhìn thấy lạm phát có xu hướng tăng sẽ phát sinh nhu cầu phòng ngừa rủi ro lạm phát bằng cách cắt TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 giảm nhu cầu dầu mỏ trong dài hạn. Và tiếp đến, nhà sản xuất sẽ điều chỉnh sản lượng cung dầu. Khi cung dầu và cầu dầu thay đổi thì giá dầu sẽ thay đổi theo (Lý thuyết cung cầu hàng hóa).
Đây cũng có thể chính là cú sốc phòng ngừa (oil specific demand shocks), theo như quan điểm của Kilan (2009). Mặc dù sớm nổi lên như một cách giải thích cho tác động của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế, chính sách tiền tệ lại dần bị thay thế bởi lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực. Tuy nhiên, sự thất bại trong việc giải thích mối quan hệ giữa giá dầu và nền kinh tế trong những năm 80 và 90 đã khiến các nhà nghiên cứu phải xem xét lại mô hình cú sốc cung thuần túy và tìm hiểu những kênh truyền dẫn khác. Trong đó phải kể đến những thay đổi trong việc điều hành chính sách tiền tệ.
Trong một chừng mực nhất định, chính sách tiền tệ sẽ định hình cách nền kinh tế hấp thụ các cú sốc giá dầu. Nếu những nhà làm chính sách muốn giữ nguyên tốc độ tăng trưởng GDP danh nghĩa thì tỷ lệ lạm phát sẽ tăng đúng với mức giảm GDP thực. Một chính sách tiền tệ nới lỏng (thắt chặt) sẽ phần nào bù đắp (làm tăng) sự suy giảm trong GDP thực trong khi lại làm tăng (giảm) áp lực lạm phát. Nếu cú sốc giá dầu làm tăng lãi suất thực (như đã đề cập ở phần trên), vòng quay của tiền sẽ tăng, và nhà điều hành chính sách tiền tệ phải giảm tốc độ tăng trưởng cung tiền bằng cách nâng lãi suất thực cao hơn nữa để ổn định tăng trưởng tăng, tăng trưởng GDP danh nghĩa sẽ tăng và lạm phát sẽ tăng.
Nếu nhà làm chính sách giữ nguyên lãi suất thực, tăng trưởng cung tiền sẽ tăng làm tăng tỷ lệ lạm phát. Tuy nhiên, nếu cú sốc giá dầu không ảnh hưởng đến lãi suất thực, việc ổn định lãi suất, tăng trưởng GDP danh nghĩa và cung tiền vẫn có thể đạt được bằng những chính sách tiền tệ tương tự. Có nhiều nghiên cứu khẳng định chính sách tiền tệ là kênh quan trọng truyền dẫn tác động của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế, có thể kể đến Bohi (1989, 1991), Bernanke, Gertler và Watson (1997) và Lee và cộng sự (2009). Tuy nhiên, Ferderer (1996), Davis và Haltiwanger (1998) và Hamilton và TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 17 Herrera (2000) lại cho rằng tác động của chính sách tiền tệ nhỏ hơn tác động của biến động giá dầu.
Kết luận: dựa trên các kênh truyền dẫn được trình bày bên trên có thể thấy sự thay đổi trong giá dầu có thể do những cú sốc khác nhau trong giá dầu quyết định. Và cũng có thể kết luận, dầu là nguồn nguyên liệu đầu vào đối với nền kinh tế. Giá dầu sẽ góp phần trong việc quyết định chi phí sản xuất của nền công nghiệp. Jones và Kaul (1996) chỉ ra, khi giá dầu cao hơn thì đồng nghĩa với việc nhiên liệu đắt đỏ hơn, có thể tạo nên chi phí cao hơn trong vận chuyển, cũng như giá cả lạm phát của hàng hóa và dịch vụ, có thể lần lượt mang đến các lo ngại về lạm phát.
Do đó, người tiêu dùng sẽ có nhiều hạn chế trong chi tiêu của họ và có thể làm giảm nhu cầu đối với hàng hóa và dịch vụ. Tóm lại, cú sốc giá dầu đã tạo ra sự ảnh hưởng đến lạm phát, giá cả, sản lượng, thu nhập, đầu tư. Nói khác đi, giá dầu có ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô. Tổng quan về các nghiên cứu trước đây 2.
Nghiên cứu nước ngoài Có hai khuynh hướng khuynh hướng nổi bật nghiên về biến động giá dầu tác động lên các hoạt động kinh tế vĩ mô. Sự phân loại này dựa trên phương pháp được sử dụng để đô lường biến động giá dầu: đo lường sự gia tăng ròng của giá dầu hay đo lường biến động có điều kiện của giá dầu. Khuynh hướng thứ nhất: Biến động của giá dầu thể hiện qua sự gia tăng ròng của giá đầu được đo lường bằng phương pháp HI. Đầu tiên, Hamilton (1983) cho thấy rằng sự gia tăng đáng kể của giá dầu luôn theo sau bởi sự khủng hoảng trong kinh tế Mỹ thời kỳ hậu chiến.
Hiện tượng này không thể chỉ giải thích đơn giản như một sự trùng hợp thống kê. Hơn thế nữa, đã có một vài bằng chứng chỉ ra rằng giá dầu và sản lượng bị tác động đồng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 18 thời bởi các biến kinh tế vĩ mô khác trong nền kinh tế Mỹ. Do đó, Hamilton cho rằng có thể có một cơ chế nội sinh trong nền kinh tế Mỹ mà ít nhất một phần các cuộc khủng hoản này bị khởi động bởi sự gia tăng của giá dầu thông qua cơ chế này.