Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Cơ sở lý luận về quản lý sử dụng đất nông nghiệp 1. Một số vấn đề cơ bản về quản lý sử dụng đất nông nghiệp a.
Một số khái niệm về đât, đất đai và đất nông nghiệp * Đất: Đất là nguồn tài nguyên quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người, là nơi họ sinh ra, sống và lớn lên. Nhà Thổ nhưỡng lỗi lạc người Nga, (Docutraiep) cho rằng “Đất là vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập, lâu đời do kết quả của quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành bao gồm: đá, thực vật, động vật, khí hậu, địa hình, thời gian” (Trần Thị Minh Châu, 2007). Về sau, một số học giả khác đã bổ sung thêm các yếu tố như nước ngầm và đặc biệt là vai trò của con người để hoàn chỉnh khái niệm nêu trên. Học giả người Anh lại đưa ra khái niệm về đất như sau: “Đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm từ cây trồng” (De kimpe E.
Một số tác giả khác lại chỉ ra rằng: “Đất là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp” (Trần Thị Minh Châu, 2007), .là “điều kiện không thể thiếu cho sự tồn tại và sinh sống của loài người. Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái, bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng sử dụng đất (FAO, 1990). Theo quan niệm của các nhà thổ nhưỡng và quy hoạch Việt Nam cho rằng “Đất là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được” (Đặng Kim Chi, 2003), và đất đai được hiểu theo nghĩa rộng: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các yếu tố cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt bao gồm: khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lũng đất, động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại” (Trần Thị Minh Châu, 2007). 7 * Đất đai: Đất đai là một vùng lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoanh đất, vạt đất, mảnh đất, miếng đất.) có vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên hoặc mới tạo thành (đặc tính, thổ nhưỡng, điều kiện địa hình, điạ chất, thuỷ văn, chế độ nước, nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý hoá tính.) tạo ra điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau.
Như vậy, để sử dụng đất cần phải làm quy hoạch – đây là quá trình nghiên cứu, lao động sáng tạo nhằm phân định ý nghĩa, mục đích của từng phần lãnh thổ và đề xuất một trật tự sử dụng đất nhất định. Về bản chất: Đất đai là đối tượng của mối quan hệ sản xuất trong lĩnh vực sử dụng đất (gọi là mối quan hệ đất đai) và tổ chức sử dụng đất như “tư liệu sản xuất đặc biệt” gắn chặt với phát triển kinh tế - xã hội. * Đất nông nghiệp: Đối với khái niệm đất nông nghiệp tại Khoản 1, Điều 13, luật đất đai 2003 quy định (Quốc hội, 2004): đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng. Đất nông nghiệp bao gồm các loại đất như: đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác; đất trồng cây lâu năm; đất rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất nuôi trồng thuỷ sản; đất làm muối và đất nông nghiệp khác.
Sử dụng đất nông nghiệp Sử dụng đất nông nghiệp là hành vi lấy đất kết hợp với sức lao động, vốn, để sản xuất nông nghiệp tạo ra lợi ích, tùy thuộc vào mức độ phát triển kinh tế xã hội, ý thức của loài người về môi trường sinh thái được nâng cao, phạm vi sử dụng đất nông nghiệp được mở rộng ra các mặt sản xuất, sinh hoạt, sinh thái. * Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp - Sử dụng đất nông nghiệp đặc biệt coi trọng việc bảo vệ độ phì nhiêu của đất: Nghề trồng trọt gắn liền với việc sử dụng đất nông nghiệp, cây trồng trên đất 8 làm tiêu hao một lượng lớn chất hữu cơ trong đất. Vì vậy duy trì độ phì nhiêu trong đất là có lợi cho sản xuất. - Sử dụng đất nông nghiệp theo các vùng khác nhau: Do việc sử dụng đất nông nghiệp chịu sự chi phối của môi trường tự nhiên và xu thế phát triển của kinh tế xã hội, nên sự khác biệt theo khu vực là khá rõ ràng.
- Hiệu quả kinh tế của quy mô sử dụng đất nông nghiệp không lớn: Nếu so sánh với công nghiệp về quy mô trên một đơn vị diện tích đất đai thì hiệu quả kinh tế không cao như trong công nghiệp. * Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp - Đất nông nghiệp phải được sử dụng đầy đủ, hợp lý: Điều này có nghĩa là toàn bộ diện tích đất cần được sử dụng hết vào sản xuất, với việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với đặc điểm của từng loại đất nhằm nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi đồng thời gìn giữ bảo vệ và nâng cao độ phì của đất. - Đất nông nghiệp phải được sử dụng đạt hiệu quả cao: Đây là kết quả của việc sử dụng đầy đủ, hợp lý đất đai, việc xác định hiệu quả sử dụng đất thông qua tính toán các chỉ tiêu khác nhau. Muốn nâng cao hiệu quả sử dụng đất phải thực hiện tốt, đồng bộ các biện pháp kỹ thuật và chính sách kinh tế - xã hội trên cơ sở đảm bảo an toàn về lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và nông lâm sản cho xuất khẩu (Nguyễn Hoàng Đan, 2003).
- Đất nông nghiệp cần phải được quản lý và sử dụng một cách bền vững: Sự bền vững ở đây là sự bền vững cả về số lượng và chất lượng, có nghĩa là đất đai phải được bảo tồn không chỉ đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà còn cho thế hệ tương lai. Sự bền vững của đất đai gắn liền với điều kiện sinh thái, môi trường. Vì vậy, các phương thức sử dụng đất nông lâm nghiệp phải gắn liền với việc bảo vệ môi trường đất, đáp ứng được lợi ích trước mắt và lâu dài. * Mục tiêu sử dụng đất nông nghiệp - Sử dụng đất nông nghiệp với mục tiêu kinh tế: Các đối tượng sử dụng đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng luôn đặt ra mục tiêu làm ra nhiều sản phẩm hơn, đạt lợi nhuận cao hơn.
Nếu thấy việc đó không có lợi, họ có thể 9 thay đổi cây trồng để sản xuất có hiệu quả hơn hoặc nếu việc canh tác không có lợi, họ có thể chuyển quyền sử dụng phần đất của họ cho người khác có khả năng sử dụng đất mang lại hiệu quả hơn. Trong khi đó cộng đồng luôn có những mối quan tâm kinh tế lâu dài trong sử dụng đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng, trước hết là đảm bảo các mục tiêu kinh tế và cần thiết cho cả cộng đồng. Như vậy, các mối quan tâm kinh tế nhất thời của người sử dụng đất cụ thể có mâu thuẫn với mối quan tâm lâu dài của cả cộng đồng. Các mục tiêu kinh tế trong việc sử dụng đất đai được xem là hợp lý không có ý nghĩa thoả mãn được nguyện vọng của từng chủ sử dụng đất biệt lập với toàn thể cộng đồng, mà là quá trình xem xét, cân nhắc để sử dụng đất hài hoà về mặt lợi ích của toàn thể cộng đồng và các chủ sử dụng đất cụ thể.
- Sử dụng đất nông nghiệp với mục tiêu xã hội: Sử dụng đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng trước tiên là liên quan tới những người sống trên mảnh đất đó, họ có những nhu cầu thiết yếu của mình và đó là mục tiêu rõ rệt của bất cứ một Nhà nước nào nhằm tạo ra hay duy trì các điều kiện mà có tác dụng thoả mãn những nhu cầu thiết yếu này. Việc tạo ra công ăn việc làm trong quá trình phát triển bền vững là phương pháp hữu hiệu nhằm một lúc đạt 3 mục tiêu: xã hội, kinh tế và môi trường. Những nhu cầu thiết yếu này bao gồm những cơ sở vật chất công cộng hoặc phương tiện phục vụ cho sức khoẻ, giáo dục, định cư, thu nhập… - Sử dụng đất nông nghiệp với mục tiêu môi trường: Đối với bất kì vùng đất nào trong sử dụng đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng đều gắn với mục tiêu môi trường thì điều quan trọng là phải phân biệt được mục tiêu chung và mục tiêu riêng. Chính phủ các nước đều đưa ra tiêu chuẩn và mục tiêu môi trường.
Việc nhìn nhận môi trường không chỉ có ý nghĩa là một hệ thống các tiêu chuẩn về hoá học thuần tuý. Tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên rừng, khí hậu và cảnh quan thiên nhiên…là các tài sản có giá trị cần được bảo vệ và sử dụng lâu dài. 10 - Sử dụng đất nông nghiệp phải kết hợp vừa khai thác sử dụng theo chiều rộng với vừa đi vào sử dụng theo chiều sâu và hướng đi lâu dài là chiều sâu: Quá trình phát triển xã hội, cũng là quá trình diễn biến việc sử dụng đất đai. Theo mức gia tăng của dân số và sự phát triển của kinh tế, khoa học kĩ thuật và văn hoá, khuynh hướng của chiều sâu của việc sử dụng đất ngày một nâng cao.
Tuy nhiên quá độ từ kinh doanh quảng canh sang kinh doanh thâm canh cao trong sử dụng đất là một tiến trình lịch sử lâu dài. Muốn nâng cao sức sản xuất và sức tải của một đơn vị diện tích, nhất thiết phải không ngừng nâng mức đầu tư về lao động, vốn liếng, thường xuyên cải tiến kĩ thuật và quản lý. - Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp phải phát triển theo khuynh hướng kết hợp giữa đa dạng hoá và chuyên môn hoá: Theo đà phát triển của khoa học kĩ thuật và kinh tế của xã hội, cơ cấu sử dụng đất cũng dần chuyển sang xu thế đa dạng hoá và chuyên môn hoá.