Chương 1: Giới thiệu Trong chương này, tác giả giới thiệu lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và bố cục của luận văn. Chương 2: Các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư trong nước và tăng trưởng kinh tế. Thực trạng FDI, DI và GDP tại Việt Nam Đầu tiên, tác giả muốn giới thiệu về cơ sở lý thuyết mối quan hệ giữa FDI, DI và GDP. Ngoài ra, thực trạng của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 trong nước và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam cũng được tác giả đề cập đến để làm tiền đề cho công tác nghiên cứu.
Bên cạnh đó, giới thiệu các kết quả nghiên cứu trước đây của các tác giả trong nước cũng như ngoài nước về mối liên hệ giữa FDI, DI và GDP.Từ đó, đưa ra phần nào đó có thể trả lời cho câu hỏi nghiên cứu là có hay không mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư trong nước và tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trong chương này tác giả giới thiệu dữ liệu nghiên cứu, mô hìnhvà các bước thực hiện. Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm Từ các phương pháp nghiên cứu ở chương 3, tác giảtrình bày các kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho mối liên hệ giữa FDI, DI và GDP Việt Nam. Chương 5: Kết luận Tác giả tóm tắt lại toàn bộ các kết quả nghiên cứu chính của đề tài đồng thời sẽ nêu ra những hạn chế và định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo.Đóng góp của đề tài Luận văn đã cung cấp thêm một nghiên cứu thực nghiệm về tác động của các nhân tố vĩ mô đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam: phương pháp hồi qui tuyến tính bằng mô hình VECM.
Luận văn cũng lượng hóa được mức độ tác động của các nhân tố đến tăng trưởng kinh tế để đề ra các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thu hút FDI, đầu tư trong nước ở Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2: CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ FDI, DI VÀ GDP 2.Tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về giá trị trong phạm vi một nền kinh tế. Tăng trưởng kinh tế được phản ánh ở nhiều chỉ tiêu nhưng chỉ tiêu thường được sử dụng là Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), tổng thu nhập quốc dân (GNI), tăng trưởng vốn, lao động, sự gia tăng dung lượng thị trường.Sự tương tác giữa các bộ phận cấu thành GDP như tiêu dùng nội địa, đầu tư, chi tiêu chính phủ và cán cân thương mại sẽ làm thay đổi tốc độ tăng trưởng kinh tế. Quá trình tăng trưởng thể hiện các nguồn lực tăng trưởng như tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động, công nghệ, quản lý, quan hệ, thị trường.
được khai thác và sử dụng có hiệu quả cao nhất. Tăng trưởng kinh tế bao hàm cả tăng trưởng theo chiều rộng và chiều sâu, số lượng và chất lượng, ngắn hạn và dài hạn.Nhiều công trình nghiên cứu trong ngoài nước đã lượng hóa tác động của các nguồn lực tăng trưởng đến chất lượng và động thái tăng trưởng thông qua các mô hình như mô hình tái sản xuất giản đơn của C. Mác, tái sản xuất mở rộng của V. Lênin, mô hình các giai đoạn tăng trưởng kinh tế của W.Rostow hoặc Solow.hoặc hàm sản xuất Cobb Douglas.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Đầu tư trực tiếp nước ngoài Định nghĩa theo pháp luật Việt Nam: "Đầu tư trực tiếp nước ngoài" là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này Theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (International Monetary Fund, IMF), Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài (Foreign Direct Investment, FDI) Là một công cuộc đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp (direct investor) đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp (direct investment enterprise) trong một quốc gia khác. Quyền sở hữu này tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận là FDI. Như vậy, FDI sẽ tạo thành một mối quan hệ lâu dài giữa một công ty chủ quản (người đầu tư trực tiếp) và một công ty phụ thuộc (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp) đặt tại một quốc gia khác với quốc gia của công ty chủ quản. Công ty chủ quản không nhất thiết phải kiểm soát toàn bộ hoạt động của công ty phụ thuộc (trong trường hợp công ty chủ quản không chiếm đa số cổ phiếu của công ty phụ thuộc) và phần FDI chỉ tính trong phạm vi tỉ lệ sở hữu của công ty chủ quản đối với công ty phụ thuộc.
FDI tác động tới tăng trưởng kinh tế thông qua nhiều kênh khác nhau. Theo cách tiếp cận hẹp, tác động đối với tăng trưởng của FDI thường được thông qua kênh đầu tư và gián tiếp thông qua các tác động tràn. Theo cách tiếp cận rộng, FDI gây áp lực buộc nước sở tại phải nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia mà trước hết là cải thiện môi trường đầu tư, qua đó làm giảm chi phí giao dịch cho các nhà đầu tư nước ngoài, tăng hiệu suất của vốn và rốt cuộc là tác động tích cực tới tăng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 trưởng kinh tế. Một số ý kiến còn cho rằng FDI có thể làm tăng đầu tư trong nước thông qua tăng đầu tư của các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là những doanh nghiệp trong nước cung cấp nguyên liệu cho doanh nghiệp FDI họăc tiêu thụ sản phẩm từ các doanh nghiệp FDI.
Đồng thời, các chính sách cải thiện cơ sở hạ tầng của chính phủ nhằm thu hút nhiều vốn FDI hơn cũng thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước hình thành và phát triển. Nghiên cứu này chỉ tập trung phân tích tác động của FDI tới tăng trưởng theo cách tiếp cận hẹp, dựa vào khung khổ phân tích đã được vận dụng trên thế giới. Các tác động trực tiếp của FDI tới tăng trưởng thường được truyền qua kênh đầu tư và có thể ước lượng bằng cách sử dụng mô hình tăng trưởng ở cấp vĩ mô. Trái lại, tác động gián tiếp trong đó có tác động tràn có thể được xem xét ở cả tầm vĩ mô và vi mô.
Trên thực tế, việc đánh giá tác động tràn ở tầm vi mô rất có ý nghĩa cho hoạch định chính sách nên được quan tâm.Đầu tư trong nước Chỉ tiêu này Ngân hàng thế giới (WB) gọi là Gross Capital Formation hay hình thành vốn ( trước đây là Gross Domestic Investment) bao gồm chi tiêu chi tài sản cố định của nền kinh tế cộng với thay đổi ròng trong mức độ hàng hóa. Việt Nam gọi chỉ tiêu này là tích lũy tài sản gộp, phản ánh chi tiêu cho đầu tư tài sản cố định, đầu tư tài sản lưu động và tài sản quý hiếm trong một thời kỳ nhất định. Tích lũy tài sản được chia theo loại tài sản, tính theo giá thực tế và giá so sánh. Tích lũy tài sản cố định được tính bằng giá trị tài sản cố định nhận về trừ đi tài sản cố định thanh lý trong kỳ của các đơn vị thể chế, không bao gồm phần hộ gia LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 đình tiêu dùng.Tích lũy tài sản lưu động gồm tài sản là nguyên vật liệu dùng cho sản xuất, thành phẩm tồn kho, sản phẩm dở dang; được tính bằng chênh lệch cuối kỳ và đầu kỳ của các đơn vị thể chế, không bao gồm tồn kho của hộ gia đình cho tiêu dùng.
Tài sản quý hiếm trong các đơn vị thể chế gồm cả hộ gia đình tiêu dùng nắm giữ với mục đích bảo toàn giá trị của cải. Tài sản quý hiếm không bị hao mòn và giảm giá trị theo thời gian, được tính bằng chênh lệch giữa tài sản quý hiếm nhận được trong kỳ và nhượng bán tài sản quý hiếm nhận được trong kỳ đó.Cơ sở lý thuyết Các nhà kinh tế học đã cố gắng giải thích nguồn gốc của sự tăng trưởng thông qua hàm sản xuất. Phương trình sản xuất dạng chung nhất của trường phái này nêu lên mối quan hệ giữa sự tăng lên của các yếu tồ đầu ra với sự tăng lên của các yếu tố đầu vào: vốn, lao động, tài nguyên và khoa học công nghệ. Y=f(K,L,R,T) Trong đó Y :Đầu ra (GDP) K:Vốn sản xuất R:Nguồn tài nguyên thiên nhiên T:Khoa học công nghệ Trường phái tân cổ điển đã đề xuất ra một số phương trình, nổi tiếng nhất là phương trình Cobb-Douglas: Y=T.Rγ Trong đó : α,β,γ là các số lũy thừa phản ánh tỷ lệ cận biên của các yếu tố đầu vào (α+β+γ=1).
Nếu lấy logarit phương trình đổi thành g=t+αk+βl+γr LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Trong đó: g: Tốc độ tăng trưởng GDP k,l,r: Tốc độ tăng trưởng các yếu tố đầu vào t: Phần dư còn lại, phản ánh tác động của khoa học công nghệ. Như vậy, hàm sản xuất Cobb-Douglas cho biết có 4 yếu tố cơ bản tác động đến tăng trưởng kinh tế là vốn, lao động, tài nguyên và khoa học công nghệ. Keynes khi nghiên cứu tiêu dùng cho đầu tư, ông cho rằng đầu tư đóng một vai trò quyết định đến quy mô việc làm. Mỗi sự gia tăng của đầu tư đều kéo theo sự gia tăng của cầu bổ sung lao động, cầu về tư liệu sản xuất.
Do vậy làm tăng cầu tiêu dùng, tăng giá hàng, tăng việc làm cho công nhân. Tất cả điều đó làm thu nhập tăng lên. Đến lượt nó, tăng thu nhập làm tiền đề cho sự gia tăng đầu tư mới. Keynes gọi quá trình này là số nhân đầu tư, được tính bằng công thức: K= dR/dl Trong đó: dR: gia tăng thu nhập dl: gia tăng đầu tư K: số nhân Dựa vào tư tưởng của Keynes, vào những năm 1940 Roy Harrod và Evsay Domar đã đưa ra mô hình giải thích mối quan hệ giữa sự tăng trưởng và thất nghiệp ở các nước phát triển.
Trong mô hình đơn giản này chỉ có một yếu tố sản xuất duy nhất là vốn, không có lao động, không có tiến bộ công nghệ. Tham số mà mô hình quan tâm là tỉ lệ giữa vốn và sản lượng đầu ra. Mô hình Harrod-Domar tổng quát có dạng sau: Y=δK LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Đây là quan hệ cơ bản Harrod-Domar phản ánh mối quan hệ giữa tăng trưởng của sản lượng đầu ra với tiết kiệm và đầu tư: vốn là nhân tố chính được tạo ra bởi đầu tư và tiết kiệm là nguồn đầu tư tạo vốn tăng trưởng kinh tế.