Các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến sự tham gia bảo hiểm y tế của hộ cận nghèo tại tỉnh Bến Tre

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueh các yếu tố tâm lý nhận thức tác động đến sự tham gia bảo hiểm y tế của hộ cận nghèo tại tỉnh, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Chuyên ngành

Chính sách công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

107
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Kết cấu luận văn

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Một số khái niệm

2.2. Bảo hiểm y tế

2.3. Hộ nghèo, hộ cận nghèo

2.4. Bản chất của BHYT

2.5. Vai trò của BHYT

2.6. Tâm lý, nhận thức và mối quan hệ giữa nhận thức và hành vi

2.6.1. Hoạt động nhận thức là gì

2.6.2. Mối quan hệ giữa nhận thức và hành vi

2.7. Lý thuyết về hành vi người tiêu dùng

2.7.1. Hành vi người tiêu dùng

2.7.2. Những yếu tố chính ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng

2.8. Các mô hình về tâm lý và nhận thức tác động đến hành vi tiêu dùng

2.9. Mô hình và giả thiết nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

3.1. Quy trình nghiên cứu

3.2. Thiết kế nghiên cứu

3.3. Thiết kế mẫu

3.4. Phân tích Cronbach’s Alpha

3.5. Phân tích nhân tố khám phá EFA

4. CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Tình hình thực hiện bảo hiểm y tế cho các hộ cận nghèo ở Bến Tre

4.2. Thống kê mô tả mẫu khảo sát

4.3. Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo

4.4. Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA

4.5. Kết quả phân tích EFA các nhân tố độc lập

4.6. Phân tích EFA nhân tố phụ thuộc

4.7. Kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết

4.8. Phân tích tương quan

4.9. Phân tích hồi quy bội

4.10. Dò tìm sự vi phạm giả định cần thiết trong hồi quy bội

4.11. Kiểm định các giả thuyết

4.12. Kiểm định sự khác biệt về các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia BHYT của hộ cận nghèo tỉnh Bến Tre

4.12.1. Kiểm định sự khác biệt theo trình độ

4.12.2. Kiểm định sự khác biệt theo nghề nghiệp

4.12.3. Kiểm định sự khác biệt theo chi tiêu bình quân đầu người

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT ỨNG DỤNG KẾT QUẢ

5.1. Những kết luận chính

5.2. Đề xuất ứng dụng kết quả vào thực tiễn

5.2.1. Yếu tố chi phí

5.2.2. Nâng cao niềm tin của người tham gia với BHYT

5.2.3. Nâng cao sự hiểu biết của người về BHYT thông qua việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động của yếu tố tâm lý đến bảo hiểm y tế

Bảo hiểm y tế (BHYT) là một phần quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội tại Việt Nam, đặc biệt là đối với hộ cận nghèo. Tại tỉnh Bến Tre, sự tham gia của hộ cận nghèo vào BHYT vẫn còn hạn chế. Nghiên cứu này sẽ phân tích các yếu tố tâm lý và nhận thức ảnh hưởng đến quyết định tham gia BHYT của nhóm đối tượng này. Các yếu tố tâm lý như niềm tin, nhận thức về lợi ích và rào cản tâm lý sẽ được xem xét kỹ lưỡng.

1.1. Khái niệm về bảo hiểm y tế và hộ cận nghèo

BHYT là một hình thức bảo hiểm nhằm bảo vệ sức khỏe cho người dân, đặc biệt là những hộ cận nghèo. Hộ cận nghèo là những gia đình có thu nhập gần mức nghèo, thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ y tế. Việc hiểu rõ khái niệm này là cần thiết để phân tích các yếu tố tác động đến sự tham gia của họ vào BHYT.

1.2. Tầm quan trọng của bảo hiểm y tế đối với hộ cận nghèo

BHYT không chỉ giúp giảm gánh nặng tài chính cho hộ cận nghèo khi gặp rủi ro về sức khỏe mà còn đảm bảo quyền lợi chăm sóc sức khỏe cho họ. Sự tham gia vào BHYT giúp họ có cơ hội tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng hơn, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống.

II. Vấn đề và thách thức trong việc tham gia bảo hiểm y tế

Mặc dù có nhiều chính sách hỗ trợ, nhưng tỷ lệ tham gia BHYT của hộ cận nghèo tại Bến Tre vẫn thấp. Các rào cản tâm lý như sự thiếu hiểu biết về quyền lợi, niềm tin vào chất lượng dịch vụ y tế và chi phí tham gia là những vấn đề chính. Nghiên cứu sẽ chỉ ra những thách thức này và cách chúng ảnh hưởng đến quyết định tham gia BHYT.

2.1. Rào cản tâm lý trong việc tham gia BHYT

Nhiều hộ cận nghèo không hiểu rõ quyền lợi của mình khi tham gia BHYT. Sự thiếu thông tin và hiểu biết về BHYT dẫn đến việc họ không dám tham gia, mặc dù có sự hỗ trợ từ nhà nước.

2.2. Chi phí và niềm tin vào chất lượng dịch vụ

Chi phí tham gia BHYT có thể là một yếu tố gây lo ngại cho hộ cận nghèo. Họ thường lo lắng về khả năng chi trả khi cần khám chữa bệnh, và niềm tin vào chất lượng dịch vụ y tế cũng ảnh hưởng lớn đến quyết định tham gia của họ.

III. Phương pháp nghiên cứu tác động của yếu tố tâm lý

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định tính và định lượng để phân tích các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến sự tham gia BHYT của hộ cận nghèo. Các công cụ như bảng hỏi và phỏng vấn sâu sẽ được sử dụng để thu thập dữ liệu. Phân tích hồi quy sẽ giúp xác định mối quan hệ giữa các yếu tố tâm lý và quyết định tham gia BHYT.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và thu thập dữ liệu

Nghiên cứu sẽ được thực hiện thông qua khảo sát đối tượng hộ cận nghèo tại Bến Tre. Dữ liệu sẽ được thu thập từ bảng hỏi và phỏng vấn để đảm bảo tính chính xác và đầy đủ.

3.2. Phân tích dữ liệu và kiểm định giả thuyết

Dữ liệu thu thập sẽ được phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS. Phân tích hồi quy sẽ được sử dụng để kiểm định các giả thuyết về tác động của yếu tố tâm lý đến sự tham gia BHYT.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các yếu tố tâm lý như niềm tin vào BHYT, nhận thức về lợi ích và rào cản tâm lý có tác động đáng kể đến quyết định tham gia BHYT của hộ cận nghèo. Những phát hiện này sẽ được sử dụng để đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia của họ vào BHYT.

4.1. Tác động của niềm tin và nhận thức đến tham gia BHYT

Nghiên cứu chỉ ra rằng niềm tin vào chất lượng dịch vụ y tế và nhận thức về lợi ích của BHYT là hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định tham gia của hộ cận nghèo.

4.2. Đề xuất giải pháp nâng cao sự tham gia BHYT

Để tăng cường sự tham gia của hộ cận nghèo vào BHYT, cần có các chương trình tuyên truyền, nâng cao nhận thức và niềm tin của họ về BHYT. Các chính sách hỗ trợ tài chính cũng cần được cải thiện để giảm bớt gánh nặng chi phí.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng yếu tố tâm lý có ảnh hưởng lớn đến sự tham gia BHYT của hộ cận nghèo tại Bến Tre. Để nâng cao tỷ lệ tham gia, cần có các giải pháp đồng bộ từ chính quyền và các tổ chức xã hội. Hướng phát triển tương lai cần tập trung vào việc cải thiện nhận thức và niềm tin của người dân về BHYT.

5.1. Tóm tắt các phát hiện chính

Các yếu tố tâm lý như niềm tin và nhận thức đã được xác định là có tác động lớn đến quyết định tham gia BHYT của hộ cận nghèo. Những phát hiện này cần được xem xét trong các chính sách tương lai.

5.2. Đề xuất nghiên cứu tiếp theo

Cần có các nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố tâm lý khác và cách chúng tương tác với các yếu tố kinh tế xã hội để hiểu rõ hơn về sự tham gia BHYT của hộ cận nghèo.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh các yếu tố tâm lý nhận thức tác động đến sự tham gia bảo hiểm y tế của hộ cận nghèo tại tỉnh bến tre

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận, hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Một số khái niệm. Theo Uỷ ban thuật ngữ bảo hiểm của Hiệp hội bảo hiểm và rủi ro Hoa Kỳ thì Bảo hiểm là sự tập trung các tổn thất bất ngờ bằng việc chuyển giao những rủi ro gây ra chúng cho những người bảo hiểm khi họ cam kết bồi thường những tổn thất này, cung cấp các quyền lợi bằng tiền khác khi tổn thất xảy ra hoặc cung cấp các dịch vụ liên quan đến rủi ro. Theo Hiệp hội các nhà bảo hiểm Anh thì Bảo hiểm là sự thỏa thuận qua đó một bên (người bảo hiểm) hứa thanh toán cho bên kia (người được bảo hiểm hay người tham gia bảo hiểm) một khoản tiền nếu sự cố xảy ra gây tổn thất tài chính cho người được bảo hiểm.

Để chấp nhận trách nhiệm thanh toán này, người bảo hiểm đòi người được bảo hiểm một khoản tiền, đó là phí bảo hiểm. Dưới góc độ tài chính, người ta cho rằng: Bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ tài chính nhằm phân phối lại những chi phí mất không mong đợi. Dưới góc độ kinh doanh bảo hiểm, các doanh nghiệp, các tập đoàn thương mại trên thế giới lại đưa ra khái niệm: Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức, chuyển nhượng rủi ro cho DNBH, doanh nghiệp đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm. Có thể nói, các khái niệm trên đã lột tả được bản chất của bảo hiểm trên các khía cạnh về rủi ro.

Sự chuyển giao rủi ro giữa DNBH và người được bảo hiểm thông qua phí bảo hiểm và số tiền bồi thường hoặc chi trả khi người được bảo hiểm gặp rủi ro tổn thất. Và một cách đơn giản, bảo hiểm chính là một cách xử lý rủi ro, nhờ đó việc chuyển giao, phân tán rủi ro. Bảo hiểm y tế. BHYT được định nghĩa là: một nhóm người đóng góp tài chính vào một quỹ chung, thông thường do một bên thứ ba giữ.

Nguồn quỹ này sau đó sẽ được sử dụng để thanh toán cho toàn bộ hoặc một phần các chi phí nằm trong phạm vi gói quyền lợi của người tham gia bảo hiểm. Bên thứ ba có thể là BHXH nhà nước, các cơ quan bảo hiểm 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công khác, các quỹ do chủ sử dụng lao động tự điều hành quản lý hoặc do các quỹ tư nhân đảm nhiệm. Trên thế giới, hầu như không có một quốc gia nào lại không phải bao cấp cho nhu cầu KCB của người dân mà đều phải huy động một phần từ sự đóng góp của cộng đồng xã hội. Ở nước ta cũng vậy, ngân sách Nhà nước đã dành cho y tế tăng dần qua các năm, nhưng theo tính toán cũng chỉ đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu KCB của xã hội.

Vì vậy ngay từ năm 1989, Hội đồng Bộ trưởng nay là Chính Phủ đã ban hành Quyết định 45/HĐBT để thực hiện việc thu một phần viện phí, nhằm thông qua sự đóng góp của nhân dân, tạo thêm kinh phí cho các bệnh viện cải thiện chất lượng dịch vụ y tế, đảm bảo tốt hơn công tác chăm sóc sức khỏe của nhân dân. Tuy nhiên, chế độ thu một phần viện phí chỉ có thể giúp một bộ phận dân cư, những người có thu nhập khá được KCB, mà số lượng này lại không lớn trong xã hội. Đại bộ phận những người có thu nhập từ trung bình đến những người nghèo lại khó có điều kiện tiếp cận với dịch vụ y tế của Nhà nước do giá viện phí cao. Việc thu chi phí KCB trực tiếp từ người bệnh rõ ràng ảnh hưởng tới sự đảm bảo công bằng trong KCB giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội.

Theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới, thì rất ít khi người ta để cho một cá nhân tự phải chịu mọi cho phí y tế khi điều trị mà thường là thông qua hình thức chia sẻ rủi ro cho nhiều người qua hình thức BHYT.Tức là chia sẻ khó khăn về tài chính cho nhau, người khỏe mạnh giúp đỡ người ốm đau còn khi mình ốm đau thì nhiều người khỏe sẽ giúp đỡ mình. Đúc rút kinh nghiệm của các nước trên thế giới, ngày 15/8/1992 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số 299/HĐBT ban hành Điều lệ BHYT, khai sinh ra chính sách BHYT ở Việt Nam, BHYT Việt Nam chính thức ra đời, được coi là một loại hình bảo hiểm đặc biệt, là chính sách xã hội do Nhà nước tổ chức thực hiện mang ý nghĩa cộng đồng sâu sắc. Hay BHYT là cơ chế kinh tế, là nơi tập trung nguồn lực tài chính từ sự đóng góp của cộng đồng xã hội để chi phí KCB cho người tham gia đóng góp vào quỹ khi họ gặp phải rủi ro về sức khỏe cần phải KCB.Theo quy định của pháp luật nước ta: BHYT là một chính sách xã hội do Nhà nước tổ chức thực hiện, nhằm huy động sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động, các tổ chức và cá nhân để thanh toán chi phí KCB cho người có thẻ BHYT khi ốm đau. Tôn chỉ của BHYT không nằm ngoài mục tiêu an sinh xã hội, không vì mục tiêu lợi nhuận.

Đây không phải là loại hình bảo hiểm thương mại. Đặc 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com điểm khác biệt cơ bản của BHYT xã hội so với các loại hình bảo hiểm thương mại là mức đóng góp dựa vào khả năng thu nhập của mỗi nhóm dân cư, nhưng mức thụ hưởng lại theo nhu cầu điều trị. Khi số người tham gia BHYT càng đông thì khả năng đáp ứng quyền lợi của người tham gia BHYT càng tốt, ngược lại nếu số người tham gia càng ít thì việc đảm bảo quyền lợi cho người tham gia cũng bị hạn chế theo do khả năng dàn trải rủi ro trong cộng đồng là không cao. Khái niệm về BHYT được trình bày trong cuốn “Từ điển Bách khoa Việt Nam I” xuất bản năm 1995, nhà xuất bản Bách khoa – trang 151 như sau: “BHYT: loại hình bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khỏe, khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân”.

Mặt khác, BHYT là một trong chín nội dung của BHXH được quy định tại Công ước 102 ngày 28/6/1952 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về các tiêu chuẩn tối thiểu cho các loại trợ cấp BHXH. Do đó, khi nói tới BHYT, cần hiểu đó là BHYT xã hội hoặc còn được gọi là BHXH về y tế, nó khác với BHYT tư nhân (bảo hiểm thương mại). Như vậy BHYT đã được nhà nước quy định, đang từng bước luật hóa tạo những chuẩn mực nhằm bảo vệ người tham gia trước những rủi ro về bệnh tật. Ở Cộng hòa liên bang Đức cũng như ở các nước công nghiệp phát triển khái niệm về BHYT là: “BHYT trước hết là một tổ chức cộng đồng đoàn kết tương trợ lẫn nhau, nó có nhiệm vụ gìn giữ, khôi phục lại sức khỏe hoặc cải thiện tình trạng sức khỏe của người tham gia BHYT”.

Như vậy, trong hoạt động BHYT thì tính đoàn kết cùng chia sẻ rủi ro rất cao, nó là nền tảng cho lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sức khỏe, nó điều tiết mạnh mẽ giữa người khỏe mạnh và người ốm yếu, giữa thanh niên với người già và giữa người có thu nhập cao với người có thu nhập thấp. Sự đoàn kết tương trợ lẫn nhau trong BHYT là sự đảm bảo cho từng người dựa trên cơ sở sự đoàn kết không điều kiện của sự hợp tác cùng chung lòng chung sức và gắn kết chặt chẽ với nhau. Theo định nghĩa BHYT nêu trên thì sự đoàn kết tương trợ vừa mang ý nghĩa tự giác, vừa mang ý nghĩa cùng chịu trách nhiệm và vừa có sự thống nhất quan điểm chung. Đoàn kết tương trợ không chỉ là quyền được nhận mà còn phải có nghĩa vụ đóng góp.

Xét trên tổng thể nền kinh tế quốc dân và phương diện điều tiết kinh tế vĩ mô thì BHXH nói chung và BHYT nói riêng là công cụ thứ hai trong quá trình phân phối lại sau công cụ thuế góp phần đảm bảo sự bình đẳng và công bằng xã hội. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nếu nhìn nhận dưới góc độ kinh tế thì BHYT được hiểu là sự hợp nhất kinh tế của số lượng lớn những người cùng phải đối mặt với một loại rủi ro do bệnh tật gây ra mà trong từng trường hợp cá biệt không thể tính toán trước và lo liệu được. Cân đối về chi phí khám chữa bệnh cơ bản được thực hiện giữa một bên là tổng số chi phí KCB cho những người có nhu cầu và cần phải KCB và một bên là tổng số đóng góp của những người tham gia. Đa số các quốc gia trên thế giới, từ những quốc gia phát triển đến những quốc gia đang phát triển đều coi BHYT là một trong những giải pháp tài chính chủ yếu trong lĩnh vực y tế, được xem như một chính sách xã hội quan trọng, không thể thiếu trong chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân.

Hộ nghèo, hộ cận nghèo. Phương pháp chung để xác định nghèo đói là dựa vào nhu cầu chi tiêu để bảo đảm các nhu cầu cơ bản của con người. Có hai cách hiểu về nghèo khổ: Cách hiểu theo tiêu chuẩn thống kê thuần túy (thu nhập bình quân, calorie, v.v…) và cách hiểu theo chuẩn xã hội. Tại Việt nam ngưỡng nghèo được đánh giá thông qua chuẩn nghèo, dựa trên các tính toán của các cơ quan chức năng như Tổng cục Thống kê hay Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (MOLISA).

Chuẩn nghèo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội được xác định một cách tương đối bằng cách làm tròn số và áp dụng cho từng khu vực và vùng miền khác nhau (nông thôn miền núi, hải đảo, nông thôn đồng bằng, thành thị).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ