Ảnh hưởng của các yếu tố cá nhân đến cam kết của cán bộ nhân viên tại doanh nghiệp công ích Lâm Đồng

Luận văn thạc sĩ kinh tế phân tích kinh doanh ảnh hưởng của các yếu tố cấp độ cá nhân của cán bộ nhân viên đến cam kết với tổ chức tại, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề

Trường đại học

Đại học Quốc gia TP.HCM

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2017

89
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tác động của yếu tố cá nhân đến cam kết tổ chức

Nghiên cứu về tác động của yếu tố cá nhân đến cam kết tổ chức tại các doanh nghiệp công íchLâm Đồng đã chỉ ra rằng các yếu tố như sự hài lòng trong công việc, động lực phục vụ công và hành vi công dân tổ chức có ảnh hưởng đáng kể đến cam kết của nhân viên với tổ chức. Cụ thể, sự hài lòng trong công việc được xem là một trong những yếu tố chính thúc đẩy cam kết của nhân viên. Theo nghiên cứu, nhân viên cảm thấy hài lòng với công việc của họ thường có xu hướng gắn bó lâu dài với tổ chức và sẵn sàng cống hiến hơn. Hơn nữa, động lực phục vụ công cũng cho thấy mối liên hệ tích cực với cam kết tổ chức, bởi khi nhân viên cảm thấy động lực phục vụ công cao, họ sẽ có xu hướng làm việc hiệu quả hơn và gắn bó hơn với tổ chức. Điều này khẳng định rằng việc xây dựng môi trường làm việc tích cực và khuyến khích động lực phục vụ công là rất quan trọng để tăng cường cam kết tổ chức.

1.1. Sự hài lòng trong công việc

Sự hài lòng trong công việc là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến cam kết tổ chức. Theo nghiên cứu, sự hài lòng trong công việc không chỉ ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc mà còn ảnh hưởng đến sự gắn bó của nhân viên với tổ chức. Nhân viên hài lòng với công việc thường có xu hướng giảm tỷ lệ nghỉ việc và tăng cường sự trung thành với tổ chức. Một nghiên cứu cho thấy rằng nhân viên có sự hài lòng cao trong công việc có thể đạt được hiệu suất làm việc tốt hơn, đồng thời tạo ra một môi trường làm việc tích cực cho đồng nghiệp. Để nâng cao sự hài lòng trong công việc, các tổ chức cần chú trọng đến việc cải thiện điều kiện làm việc, cung cấp cơ hội phát triển nghề nghiệp và khuyến khích sự tham gia của nhân viên trong quyết định của tổ chức.

1.2. Động lực phục vụ công

Động lực phục vụ công là một yếu tố quan trọng khác ảnh hưởng đến cam kết tổ chức. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhân viên có động lực phục vụ công cao thường có xu hướng gắn bó với tổ chức hơn. Động lực phục vụ công không chỉ giúp nhân viên cảm thấy có giá trị trong công việc mà còn thúc đẩy họ cống hiến nhiều hơn cho tổ chức. Các tổ chức cần tạo ra môi trường làm việc mà trong đó nhân viên cảm thấy động lực phục vụ công được khuyến khích và đánh giá cao. Việc tổ chức các hoạt động tình nguyện, các chương trình phát triển cộng đồng có thể là những cách hiệu quả để nâng cao động lực phục vụ công của nhân viên.

1.3. Hành vi công dân tổ chức

Hành vi công dân tổ chức (OCB) là một yếu tố quan trọng trong việc tạo ra sự gắn bó của nhân viên với tổ chức. Hành vi này không chỉ bao gồm những nhiệm vụ chính thức mà còn bao gồm những hành động tự nguyện nhằm hỗ trợ đồng nghiệp và tổ chức. Nghiên cứu cho thấy rằng nhân viên thể hiện hành vi công dân tổ chức cao thường có mức độ cam kết tổ chức cao hơn. Điều này cho thấy rằng việc khuyến khích nhân viên tham gia vào các hoạt động ngoại khóa và hỗ trợ đồng nghiệp có thể góp phần nâng cao cam kết tổ chức. Các tổ chức nên tạo ra các chương trình khuyến khích hành vi công dân tổ chức để xây dựng một môi trường làm việc tích cực và hỗ trợ lẫn nhau.

07/01/2025
Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh ảnh hưởng của các yếu tố cấp độ cá nhân của cán bộ nhân viên đến cam kết với tổ chức tại các doanh nghiệp công ích nhà nước tại lâm đồng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Giới thiệu đề tài Giới thiệu về đề tài, trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài và kết cấu của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Nêu lý luận tổng quan về những yếu tố cấp độ cá nhân tác động đến cam kết với tổ chức, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp công ích và mối quan hệ của các yếu tố cấp độ cá nhân và cam kết với tổ chức. Mô hình nghiên cứu, các lý thuyết, giả thuyết về mối tương quan của các yếu tố trong mô hình. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày phương pháp nghiên cứu để kiểm định thang đo, sự phù hợp của mô hình nghiên cứu với các giả thuyết đề ra và thông tin về mẫu.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu Kết quả của nghiên cứu định lượng chính thức, bao gồm các kết quả phân tích thống kê mô tả mẫu, kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy, phân tích T-test và ANOVA. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Trình bày những kết quả thu được từ nghiên cứu này, so sánh với kết quả nghiên cứu trước đây, đồng thời đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nhận diện rõ các ảnh hưởng của các yếu tố cấp độ cá nhân tới cam kết gắn bó của nhân viên tại các doanh nghiệp công ích nhà nước tại Lâm Đồng. Đề nghị hướng thực hiện cho các nghiên cứu tiếp theo. Tài liệu tham khảo Các phụ lục 4 CHƯƠNG II- CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Tóm tắt chương 2: Chương này nhằm mục đích trình bày nền tảng lý luận và tổng quan của nghiên cứu, nêu các khái niệm nghiên cứu của đề tài.

Gồm hai phần chính: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu.1 ĐỊNH NGHĨA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế- xã hội do nhà nước giao. Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý Đến tháng 11 năm 2003 Luật doanh nghiệp nhà nước được điều chỉnh như sau: “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”.2 KHÁI NIỆM DOANH NGHIỆP CÔNG ÍCH NHÀ NƯỚC Tại Nghị đinh số 56/CP ngày 2/10 năm 1996 của Chính phủ, Doanh nghiệp công ích được quan niệm như sau: doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích là doanh nghiệp nhà nước độc lập hoặc doanh nghiệp nhà nước là thành viên hạch toán độc lập của tổng công ty nhà nước trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng an ninh hoặc sản xuất sản phẩm cung ứng dịch vụ cộng cộng theo chính sách của nhà nước do Nhà nước giao kế hoạch hoặc đặt hàng và theo giá, khung giá hoặc phí do nhà nước quy định. Theo Phạm Quang Lê (được trích dẫn bởi Chu Văn Thành, 2004) dịch vụ công ích là các hoạt động có tính chất kinh tế hàng hoá do các doanh nghiệp công ích thực hiện theo yêu cầu của Nhà nước, không nhằm mục tiêu lợi nhuận để phục vụ nhân dân như cung cấp điện, nước, kết cấu hạ tầng, vệ sinh môi trường, phòng chống các dịch bệnh, vận tải công cộng, khuyến nông… Ngoài ra, từ dịch vụ công ích còn có một định nghĩa khác theo Luật Doanh nghiệp nhà nước (2003) là: dịch vụ thiết yếu đối với đời sống, kinh tế, xã hội của đất nước, 5 cộng đồng dân cư của một khu vực lãnh thổ hoặc bảo đảm quốc phòng, an ninh mà việc sản xuất, cung cấp theo cơ chế thị trường thì khó có khả năng bù đắp chi phí đối với doanh nghiệp sản xuất, cung ứng dịch vụ này, do đó được Nhà nước đặt hàng, giao kế hoạch, đấu thầu theo giá hoặc phí do Nhà nước quy định. Cách định nghĩa này được các nhà làm chính sách nước ta đưa ra chỉ để tiện cho việc chi tiêu Ngân sách nhưng lại không hội nhập với thông lệ quốc tế.3 CÁC YẾU TỐ CẤP ĐỘ CÁ NHÂN CỦA CÁN BỘ NHÂN VIÊN: Đã có nhiều nghiên cứu về sự cam kết với tổ chức của nhân viên, Mowday, Porter, và Steers (1982) đã cho rằng đạt được nhiều sự hiểu biết hơn về các quá trình liên quan đến cam kết của tổ chức có ý nghĩa đối với người lao động, tổ chức và xã hội.

Mức độ cam kết với tổ chức của nhân viên có thể làm cho đạt được lợi ích cả bên ngoài (như, tiền lương và lợi ích…) và cả tâm lý (như sự hài lòng công việc và các mối quan hệ với đồng nghiệp…). Nhân viên cam kết suy nghĩ đúng đắn và gắn kết, hỗ trợ tổ chức trong phát triển chiến lược kinh doanh hiệu quả và khai thông tiềm năng tổ chức. Kết quả thu được từ nghiên cứu của Shafazawana et al., (2016 ) đã chỉ ra sự tương qua tích cực, có ý nghĩa giữa cam kết với tổ chức, hành vi công dân tổ chức và sự hài lòng trong công việc. Kim (2005) đã chỉ ra mối tương quan tích cực giữa động lực phục vụ công và cam kết với tổ chức, hành vi công dân tổ chức, sự hài lòng trong công việc.

Các nghiên cứu thường tập trung vào một số yếu tố như sự hài lòng, hành vi công dân tổ chức, động lực phục vụ công. Từ đó tác giả đi sâu vào nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố này tới cam kết gắn bó với tổ chức của nhân viên.1 Sự hài lòng trong công việc (Job satisfaction) Có nhiều định nghĩa về mức độ hài lòng trong công việc. Dưới đây là một số quan điểm về mức độ hài lòng trong công việc của một số nhà nghiên cứu nổi tiếng: Theo Vroom (1964), hài lòng công việc là trạng thái người lao động có định hướng rõ ràng đối với công việc trong tổ chức. Weiss (1967) định nghĩa rằng sự hài lòng trong công việc là thái độ về công việc được thể hiện bằng cảm nhận, niềm tin và hành vi của người lao động.

6 Quinn và Staines (1979) định nghĩa, hài lòng trong công việc là phản ứng tích cực đối với công việc. Dormann và Zapf (2001) sự hài lòng trong công việc là thái độ thích thú nhất đối với lãnh đạo và đội ngũ lãnh đạo. Theo Smith, Kendal và Hulin (1969), mức độ hài lòng với các thành phần và khiá cạnh cuả công việc là thái độ ảnh hưởng và ghi nhận cuả nhân viên về các khía cạnh khác nhau trong công việc ( bản chất công việc, tiền lương, cơ hội thăng tiến, lãnh đạo, đồng nghiệp) của họ. Theo Schemerhon (1993, được trích dẫn bởi Luddy, 2005) định nghĩa mức độ hài lòng trong công việc là sự phản ứng về mặt tình cảm, cảm xúc đối với các khía cạnh khác nhau của công việc.

Locke (1976) sự hài lòng về công việc được định nghĩa là một trạng thái tình cảm vui hay tích cực, dẫn đến việc đánh giá của một công việc hoặc kinh nghiệm về công việc đó. Tóm lại, có nhiều khái niệm về sự hài lòng trong công việc được phát biểu dưới những góc độ khác nhau. Sự hài lòng về công việc là một phản ứng tình cảm hay cảm xúc đối với các khía cạnh khác nhau đến công việc của một người. Hầu hết các học giả nhận ra rằng hài lòng với công việc là một khái niệm đa hướng (Judge, 2001a).

Các chủ đề về sự hài lòng công việc là quan trọng do các tác động của nó đối với các biến liên quan đến công việc. Sự hài lòng công việc tương quan thuận với động lực, tham gia công việc, hành vi của công dân tổ chức, tổ chức cam kết, sự hài lòng về cuộc sống, sức khỏe tâm thần, và kết quả thực hiện công việc của nhân viên. Nó có liên quan tiêu cực đến sự khiếm diện cố ý, doanh thu, và căng thẳng nhận thức (Judge et al, 2001a; Kreitner và Kinicki, 2001; Spector, 1997). Velickovic (2014) đã nghiên cứu 1.337 y tá tại Seria và cho thấy cho thấy mối quan hệ tích cực giữa sự hài lòng trong công việc và cam kết với tổ chức.

nếu một nhân viên là thỏa mãn với công việc, anh ta hoặc cô ta sẽ cam kết với tổ chức mạnh mẽ hơn. Một nghiên cứu cho thấy mối liên hệ mạnh mẽ giữa sự hài lòng trong công việc và cam kết tổ chức đã được xác nhận trong các nghiên cứu của 7 Markovits, Davis, Fay, & Dick (2010 ). Hơn nữa, nghiên cứu gần đây của Dirani & Kuchinke (2011) đã xác nhận giả thuyết sự hài lòng trong công việc là một yếu tố dự báo đáng tin cậy của cam kết với tổ chức, khung lý thuyết và khái niệm của nghiên cứu này cho rằng làm nhân viên hài lòng trong công việc sẽ tạo nên sự cam kết với tổ chức của họ. Như vậy có thể cho cam kết với tổ chức sẽ được cải thiện bằng cách tăng sự hài lòng về công việc của cán bộ, nhân viên.2 Động lực phục vụ công (Public Service Motivation) Có nhiều cách hiểu khác nhau về động lực.

“Động lực là lý do để thực hiện hành vi” (Guay, F., 2010) hay “Động lực là cái thúc đẩy con người làm hoặc không làm một điều gì đó” (Broussard, S. Tuy nhiên, trong nhiều tài liệu về quản lý nguồn nhân lực hay hành vi tổ chức, động lực được hiểu là sự khao khát và tự nguyện của con người nhằm đạt được mục tiêu hay kết quả cụ thể nào đó. Động lực là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép, tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Động lực làm việc là sự thúc đẩy con người làm việc hăng say, giúp cho họ phát huy được sức mạnh tiềm tàng bên trong, vượt qua được những thách thức, khó khăn để hoàn thành công việc một cách tốt nhất.

Động lực lý giải cho lý do tại sao một người lại hành động. Một người có động lực là khi người đó bắt tay vào làm việc mà không cần có sự cưỡng bức, khi đó, họ có thể làm được nhiều hơn điều mà cấp trên mong chờ ở họ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn thạc sĩ mang tiêu đề "Ảnh hưởng của các yếu tố cá nhân đến cam kết của cán bộ nhân viên tại doanh nghiệp công ích Lâm Đồng" của tác giả Phạm Hồ Khương Trang, dưới sự hướng dẫn của các giảng viên như TS. Trương Minh Chương và PGS. TS. Nguyễn Hữu Hậu, đã phân tích sâu sắc mối quan hệ giữa các yếu tố cá nhân và mức độ cam kết của nhân viên trong môi trường làm việc tại doanh nghiệp công ích. Nghiên cứu không chỉ giúp hiểu rõ hơn về động lực làm việc của nhân viên mà còn cung cấp những biện pháp cải thiện hiệu quả công việc và tăng cường sự gắn bó của họ với tổ chức.

Để mở rộng kiến thức về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc và quản trị nhân sự, bạn có thể tham khảo thêm bài viết "Luận văn về việc áp dụng OKRs trong quản trị mục tiêu tại các công ty công nghệ trên thế giới và Việt Nam", nơi mà các yếu tố cá nhân cũng được xem xét trong bối cảnh quản lý mục tiêu. Bên cạnh đó, bài viết "Luận Văn Thạc Sĩ Về Tạo Động Lực Cho Người Lao Động Tại Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Công Thương" cũng sẽ cung cấp cái nhìn hữu ích về cách tạo động lực cho nhân viên, một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao cam kết. Cuối cùng, nghiên cứu "Năng suất lao động của giao dịch viên tại quầy giao dịch ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam" sẽ giúp bạn hiểu thêm về năng suất lao động và các yếu tố ảnh hưởng đến nó trong ngành ngân hàng.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn cung cấp những góc nhìn khác nhau, giúp bạn có cái nhìn tổng quan hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sự cam kết và hiệu quả công việc trong môi trường doanh nghiệp.