CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA VỐN CON NGƯỜI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ. Vốn con người 1. Khái niệm vốn con người (Human Capital) Smith (1976) là người đầu tiên đưa ra khái niệm về vốn con người. Theo Smith, vốn con người là những năng lực hữu ích mà các thành viên của một xã hội có được.
Những năng lực này có được từ việc cá nhân đầu tư vào học tập và tiếp thu được những kiến thức từ quá trình giáo dục đào tạo. Năng lực hữu ích mang lại những cơ hội tốt hơn cho chính cá nhân đó, đồng thời còn góp phần nâng cao chất lượng sống của cộng đồng. Theo Schultz (1961), vốn con người là những kiến thức, kĩ năng, năng lực và các đặc tính thuộc về cá nhân có thể tạo điều kiện cho việc tạo ra các phúc lợi thuộc về cá nhân, xã hội và kinh tế. Khái niệm này nhấn mạnh vốn con người nằm trong một quá trình thay đổi liên tục từ lúc cá nhân sinh.
Vốn con người hay vốn nhân lực là nguồn của các thói quen, kiến thức, thuộc tính xã hội và tính cách (bao gồm cả sự sáng tạo) thể hiện ở khả năng thực hiện lao động để tạo ra giá trị kinh tế. Vốn con người được gọi là “vốn” vì khi con người được nhìn nhận giống như một yếu tố đầu vào trong sản xuất và đầu tư vào con người được chứng minh là mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội cao hơn so với đầu tư vào những nguồn lực khác. Vốn con người là hữu hình khi được đo lường bằng số lượng lao động nhưng cũng là vô hình khi đo lường bằng kiến thức, khả năng mà con người đưa vào để tạo ra sản phẩm. Thước đo đại diện cho nguồn vốn con người khá đa dạng, xuất phát từ bản chất nhiều mặt của nguồn vốn con người.
Trong đó, ba cách tiếp cận định lượng để đưa ra biến đại diện phù hợp cho nguồn vốn con người bao gồm: Tiếp cận bằng phương diện giáo dục, tiếp cận bằng phương diện y tế, và cuối cùng là chi tiêu của chính phủ cho vốn con người. Quan điểm thứ nhất về nguồn vốn con người nhấn mạnh vào kiến thức và kỹ năng mà một người đạt được thông qua các hoạt động đào tạo và quá trình tích lũy, chẳng hạn như thông qua các loại hình đào tạo bắt buộc, đào tạo sau trung học, hay đào tạo nghề (Fuente & Ciccone, 2002; Alan & cộng sự, 2008). Quan điểm thứ hai liên quan mật thiết với định hướng sản xuất của nguồn vốn con người (Production-Oriented Perspective of Human). Theo quan điểm này, nguồn vốn con người được định nghĩa là một nguồn lực cơ bản tạo ra năng suất kinh tế (Romer, 1990).
Gần đây, nguồn vốn con người được Frank và Bemanke (2007) định nghĩa là sự kết hợp các yếu tố như: Giáo dục (Education), kinh nghiệm (Experience), đào tạo (Training), sự hiểu biết (Intelligence), năng lượng để làm việc (Energy), thói quen làm việc (Work habits), độ 5 tin cậy (Trustworthiness) và năng lực tự quyết định (Initiative) có ảnh hưởng đến giá trị của sản phẩm cận biên của người đó. Sheffin (2003) định nghĩa nguồn vốn con người là mức độ kỹ năng và kiến thức thể hiện trong khả năng lao động để tạo ra giá trị kinh tế. Rodriguez và Loomis (2007) định nghĩa nguồn vốn con người là kiến thức, kỹ năng, năng lực và đặc điểm của cá nhân tạo điều kiện cho việc tạo ra phúc lợi cá nhân, xã hội và tổng thể nền kinh tế. Đặc điểm của vốn con người Vốn con người là duy nhất và khác với bất kỳ vốn khác.
Nó là cần thiết cho các công ty để đạt được mục tiêu, phát triển và vẫn đổi mới. Các công ty có thể đầu tư vào vốn nhân lực chẳng hạn thông qua giáo dục và đào tạo cho phép cải thiện mức độ chất lượng và sản xuất Hiểu một cách đon giản, vốn con người là kết quả của quá trình đầu tư vào các hoạt động nhằm nâng cao năng xuất lao động cá nhân như giáo dục, y tế, đào tạo tại chỗ và nó có năm đặt trưng sau: Thứ nhất, vốn con người là một loại hàng hóa bất khả thương. Cho dù bẩm sinh hay có được tự do học tập, rèn luyện, nhưng kĩ năng và kiến thức đều hàm chứa trong cá nhân mỗi con người. Vì con người không phải là hàng hóa (ngoại trừ trong chế độ chiếm hữu nô lệ), nên không có thị trường cho phép mua bán tài sản vốn con người.
Thứ hai, mặc dù vốn con người là một tài sản cá nhân, nhưng không phải lúc nào con người cũng có thể kiểm soát các kênh và cách thức để có được thứ tài sản này. Trong những năm đầu của cuộc đời, các quyết định liên quan đến vốn con người không do chủ nhân của nó mà do cha mẹ, thầy giáo, chính phủ và cả xã hội nắm giữ thông qua các thể chế giáo dục và xã hội. Đến khi con người trưởng thành, có thể tự chủ và độc lập trong cuộc sống, thì họ có quyền quyết định quá trình đầu tư vào vốn con người của mình. Thứ ba, vốn con người có cả mặt lượng lẫn mặt chất, mặt dù chúng ta dễ dàng định lượng số năm đi học của một cá nhân, nhưng đầu tư vào vốn con người không hề đồng nhất về chất Thứ tư, vốn con người vừa mang tính cộng đồng, vừa mang tính cá biệt.
Kiến thức có thể mang tính cộng đồng nếu con người sử dụng chúng trong nhiều hoạt động và nếu chúng được truyển từ người này sang người khác một cách dễ dàng mà không làm giảm nhiều giá trị. Ngược lại, vốn con người trở nên cá biệt nếu người trở nên cá biệt nếu người ta chỉ sử dụng nó trong một số ít hoạt động và nếu việc làm tan rã mối quan hệ giữa người lao động (chủ thể mang vốn con người) và công ty gây ra những mất mát to lớn. 6 Cuối cùng, vốn con người chứa đựng cả những hiệu ứng ngoại sinh. Khi nói đến các hiệu ứng lan tỏa, một mặt chúng ta có thể hiểu rằng cá nhân này có thể tác động tới năng suất lao động của các cá nhân khác và tác động đến lợi suất của vốn vật chất, mặt khác với khả năng nhất định, mỗi cá nhân có thể làm việc năng xuất hơn trong một môi trường có mức vốn con người cao.
Khía cạnh này của vốn con người giải thích cho việc hình thành cũng như vai trò quyết định của những trung tâm vốn con người cao như các trường đại học, các thành phố, trung tâm nghiên cứu hay tổ hợp các hang công nghệ cao, đối với sự phát triển và tiến bộ của kiến thức, công nghệ và tăng trưởng kinh tế. Vai trò của vốn con người Trong điều kiện nền kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hoá, yếu tố vốn hữu hình tuy còn giữ vài trò quan trọng nhưng không như trong giai đoạn công nghiệp hoá, Thay vào đó vai trò của vốn vô hình mà đặc biệt là vốn con người ngày càng lớn hơn. Đây là nguồn vốn rất quan trọng với các công ty vì được tính vào giá trị của họ, và hình thành nên vốn vô hình của quốc gia. Vốn con người đóng vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế: (1) đó là các kỹ năng được tạo ra bởi giáo dục và đào tạo, vốn con người là yếu tố của quá trình sản xuất kết hợp với vốn hữu hình và các lao động “thô” (không có kỹ năng) để tạo ra sản phẩm, mức độ kiến thức sẽ quyết định mức lương và đó là kiến thức để tạo ra công nghệ, một yếu tố cơ bản của phát triển kinh tế; (2) Sức khỏe của nguồn vốn lao động là khả năng cống hiến sức mình cho sản xuất, sức khỏe tốt năng suất lao động sẽ tăng, thời gian làm việc tạo ra sản phẩm cho nền kinh tế sẽ tăng lên; (3) Lực lượng lao động là yếu tố tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế.
Ngoài ra, người ta đã đưa vốn con người như một yếu tố đầu vào để phân tích tăng trưởng kinh tế và đã chỉ ra ảnh hưởng tích cực của nó giống như vốn hữu hình nhưng mức độ ngày càng lớn hơn. Tuy nhiên, nếu đầu tư hình thành vốn con người chưa tốt không hiệu quả thì nguồn vốn này không tác động tích cực mà lại làm giảm tăng trưởng. Theo cách tiếp cận thu nhập GDP của nền kinh tế bằng tổng thu nhập của mọi người trong nền kinh tế, khi thu nhập của mọi người tăng lên cũng làm tăng chỉ tiêu này. Thực tế phát triển kinh tế của nhiều nước trên thế giới đã cho thấy tầm quan trọng của vốn con người.
Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh, hay sự phục hồi kinh tế nhanh của Tây Âu nhờ vào nguồn nhân lực chất lượng cao chứ không phải tài nguyên. Với các nước đang phát triển dù có nhiều tài nguyên nhưng thiếu lao động có chất lượng nên sự phát triển chậm. Mặt khác, các nước đang phát triển cố gắng thu hút thêm nguồn vốn hữu hình từ bên ngoài để tăng cường cơ sở vật chất cho sự phát triển, tuy nhiên do trình độ quản lý kém do thiếu nhân lực chất lượng cao nên hiệu quả sử dụng vốn huy động thấp đã không cho phép phát triển nhanh kinh tế ở đây. 7 Sự gia tăng vốn con người dẫn tới mức năng suất cao, ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế và do đó các nhà chính trị và hoạch định chính sách đều cố gắng hành động nhằm tạo ra vốn con người cho quốc gia.
Lucas (1988) đưa ra giới thiệu phạm trù tăng trưởng nội sinh dựa vào tích luỹ vốn con người. Qua mô hình hàm sản xuất mà Lucas (1988), Barro and Sala-i-Martin (1995) xây dựng có dạng: Y = K α (uH) 1-α. Ở đây u là thời gian dành cho sản xuất, H là vốn con người và sản lượng quốc gia Y phụ thuộc và nó. Vốn con người được tích luỹ bằng kiến thức và kinh nghiện thu nhận được trong đào tạo và cuộc sống, đó cũng là yếu tố quan trong nhất hình thành vốn con người.
Ở đây γH là tỷ lệ tăng trưởng của vốn con người cho cá nhân điển hình (do tổng hợp từ các cá nhân nên γH cũng biểu hiện tỷ lệ tăng trưởng của vốn con người vĩ mô, 1-u là thời gian dành cho học tập, B là mức độ kiến thức biến đổi thành vốn con người, δ là sự giảm giá của vốn con người. Cốt lõi của mô hình tăng trưởng nội sinh đó là lợi suất không đổi theo quy mô gắn với việc tạo ra các yếu tố đầu vào, tư bản hữu hình và vốn con người.