Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong lý thuyết kinh tế học phát triển và tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nguồn vốn con người (human capital) được thừa nhận là một tài sản vô hình quan trọng của quốc gia và địa phương, cấu thành năng lực nội sinh thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn. Tại tỉnh Bình Định, việc huy động các nguồn lực phát triển kinh tế đòi hỏi phải đánh giá khách quan thực trạng nguồn lao động cả về số lượng lẫn chất lượng, qua đó nhận diện những điểm nghẽn và tiềm năng của nguồn nhân lực địa phương. Đề tài khóa luận tốt nghiệp "Tác động của vốn con người đến tăng trưởng kinh tế tỉnh Bình Định giai đoạn 2018 - 2020" do sinh viên Phạm Thị Khánh Ly thực hiện tại Trường Đại học Quy Nhơn (chuyên ngành Kinh tế Đầu tư, dưới sự hướng dẫn của TS. Đào Vũ Phương Linh) được triển khai gắn liền với quá trình thực tập tại Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Định.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được phân định rõ ràng thành hai cấp độ:

  • Mục tiêu tổng quát: Đưa ra một cái nhìn cụ thể về thực trạng vốn con người của tỉnh Bình Định và tầm ảnh hưởng của chất lượng vốn con người đến quá trình tăng trưởng kinh tế của địa phương; từ các kết quả phân tích, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng vốn con người cả về mặt số lượng và chất lượng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Nêu ra thực trạng vốn con người, chất lượng vốn con người cũng như tác động của chúng đến tăng trưởng kinh tế của tỉnh Bình Định.
    2. Đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao nguồn vốn con người tại tỉnh Bình Định trong thời gian tới.

Về phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tác động và ảnh hưởng của vốn con người đến tăng trưởng kinh tế tỉnh Bình Định.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Bình Định.
  • Phạm vi thời gian: Trọng tâm phân tích thực trạng giai đoạn 2018 – 2020; đồng thời thu thập chuỗi số liệu thứ cấp kéo dài 11 năm (2010 – 2020) để phục vụ ước lượng mô hình hồi quy.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung xem xét các chỉ tiêu về lao động, giáo dục, y tế, mức sống dân cư và mối tương quan với tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), gắn liền với chức năng, nhiệm vụ tham mưu quản lý của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Định.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận hệ thống hóa cơ sở lý luận về vốn con người và tăng trưởng kinh tế thông qua các lý thuyết kinh điển và mô hình kinh tế lượng hiện đại. Tác giả tiếp cận khái niệm vốn con người từ nghiên cứu khởi xướng của Adam Smith (1976), Theodore Schultz (1961), Gary Becker (1975) và Jacob Mincer (1974), khẳng định vốn con người là tổng hòa kiến thức, kỹ năng, thể lực và phẩm chất của cá nhân được tích lũy qua giáo dục, đào tạo và chăm sóc sức khỏe. Khóa luận tổng kết 5 đặc trưng bản chất của vốn con người: (1) là hàng hóa bất khả thương không thể tách rời khỏi thể xác con người; (2) quá trình tích lũy chịu sự chi phối của gia đình, nhà trường và xã hội trước khi cá nhân tự chủ; (3) cấu thành từ cả mặt lượng (số lượng lao động, số năm đi học) và mặt chất; (4) mang tính cộng đồng lẫn cá biệt; (5) tạo ra hiệu ứng ngoại sinh và lợi suất lan tỏa trong nền kinh tế.

Về mặt lý thuyết tăng trưởng, nghiên cứu điểm lại các mô hình: mô hình Harrod - Domar ($g = s/k$), hàm sản xuất Cobb-Douglas ($Y = A \cdot K^\alpha \cdot L^\beta$), mô hình tăng trưởng ngoại sinh Solow có gắn tiến bộ kỹ thuật, mô hình tăng trưởng nội sinh của Lucas (1988) ($Y = K^\alpha (uH)^{1-\alpha}$) và mô hình tân cổ điển mở rộng ($Y = F(K, AL)$). Dựa trên khung phân tích của Trần Thọ Đạt (2010, 2011, 2014) và Hạ Thị Thiều Dao (2014), khóa luận xây dựng mô hình thực nghiệm dựa trên hàm sản xuất Cobb-Douglas mở rộng có dạng logarit:

$$\ln Y_t = \alpha_0 + \alpha \ln K_t + \beta \ln L_t + \delta \ln H_t + u_{it}$$

Trong đó:

  • Biến phụ thuộc $\ln Y$: Tốc độ tăng trưởng kinh tế, đo bằng Tổng sản phẩm địa phương (GRDP giá so sánh 2010, đơn vị: tỷ đồng).
  • Biến độc lập vốn vật chất $\ln K$: Trữ lượng vốn vật chất tích lũy theo phương pháp tính của Krueger và Lindahl (2001), công thức $K_t = (1 - \lambda)K_{t-1} + I_t$, trong đó $I_t$ là vốn đầu tư toàn xã hội năm $t$, mức vốn ban đầu $K_0$ lấy bằng GDP năm 2010 và tỷ lệ khấu hao $\lambda = 5%$.
  • Biến độc lập lực lượng lao động $\ln L$: Số lao động trên 15 tuổi đang làm việc trong nền kinh tế (triệu người/năm).
  • Các biến đại diện cho chất lượng vốn con người ($H$):
    • $S_1$: Tỷ lệ lao động qua đào tạo đang làm việc trong nền kinh tế (%).
    • $S_2$: Tỷ lệ lao động trên 15 tuổi biết đọc, biết viết (%).
    • $S_3$: Số lượng cán bộ, nhân viên y tế đang hoạt động trong tỉnh (người).
    • $S_4$: Tuổi thọ trung bình của người lao động (tuổi).
    • $S_5$: Tỷ lệ chi tiêu ngân sách địa phương cho giáo dục trong GRDP.
    • $S_6$: Tỷ lệ chi tiêu ngân sách địa phương cho y tế trong GRDP.

Tác giả thiết lập 8 giả thuyết nghiên cứu (từ H1 đến H8) kỳ vọng tất cả các biến số trên đều có tác động đồng biến (tác động dương) đến tăng trưởng GRDP của tỉnh Bình Định.

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm phương pháp phân tích thống kê mô tả, phương pháp so sánh số liệu qua các năm và phương pháp hồi quy mô hình kinh tế lượng. Dữ liệu nghiên cứu là số liệu thứ cấp chuỗi thời gian 11 năm (2010 – 2020) với 11 quan sát, được thu thập từ Niên giám thống kê tỉnh Bình Định (các năm 2016, 2017, 2018), Báo cáo kinh tế - xã hội 5 năm 2016 – 2020 của Cục Thống kê Bình Định và các báo cáo nghiệp vụ của Phòng Tổng hợp – Quy hoạch, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Định.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về tác động của vốn con người đến tăng trưởng kinh tế

Chương này tập trung diễn giải hệ thống lý thuyết nền tảng về vốn con người và tăng trưởng kinh tế. Tác giả làm rõ ba giác độ tiếp cận định lượng vốn con người trong thực nghiệm: tiếp cận theo phương diện giáo dục, tiếp cận theo phương diện y tế, và tiếp cận theo chi tiêu công của chính phủ. Chương 1 nhấn mạnh cơ chế tác động của vốn con người lên nền kinh tế qua 3 kênh truyền dẫn chính: thứ nhất, nâng cao năng suất biên của lao động và kích thích sáng tạo công nghệ; thứ hai, cải thiện thể lực và sức khỏe giúp kéo dài thời gian làm việc hữu ích và giảm tổn thất do ốm đau; thứ ba, chuyển dịch cơ cấu việc làm từ các ngành có giá trị gia tăng thấp (nông nghiệp) sang các ngành có đóng góp tỷ trọng cao (công nghiệp, xây dựng, dịch vụ). Bên cạnh đó, tác giả tổng thuật các nghiên cứu thực nghiệm tiêu biểu tại Việt Nam (Nguyễn Xuân Thành 2002, Lê Xuân Bá 2006, Cù Chí Lợi 2008, Nguyễn Thị Cành 2009, Trần Thọ Đạt 2011, Hạ Thị Thiều Dao 2014) nhằm chứng minh tính cấp thiết của việc đưa biến số vốn con người vào phân tích tăng trưởng cấp địa phương.

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu thực nghiệm. Tác giả mô tả nguồn gốc dữ liệu 11 quan sát (2010–2020) và giải thích quy trình toán học chuyển đổi hàm Cobb-Douglas phi tuyến sang dạng tuyến tính đa biến thông qua phép logarit tự nhiên. Tác giả làm rõ cơ sở lựa chọn các biến đại diện dựa trên khuyến nghị của Ng và Leung (2004), Barro (1991), Mankiw (1992) và Ngân hàng Thế giới (World Bank 2015). Trong đó, biến trữ lượng vốn ($K$) được tính toán cẩn trọng thông qua việc ấn định mức khấu hao 5%/năm và mức GDP năm 2010 làm giá trị vốn cơ sở, giúp loại trừ sai số so với việc dùng trực tiếp dòng vốn đầu tư từng năm. Toàn bộ 8 giả thuyết từ H1 đến H8 được lượng hóa tương ứng với các hệ số hồi quy của mô hình.

Chương 3: Thực trạng tác động của vốn con người đến tăng trưởng kinh tế tỉnh Bình Định giai đoạn 2018-2020

Chương 3 bắt đầu bằng việc giới thiệu về Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Định (tái lập ngày 23/3/1996 theo Quyết định số 526/QĐ-UB của UBND tỉnh; cơ cấu gồm 6 phòng chuyên môn, 2 đơn vị trực thuộc, tổng biên chế 57 cán bộ, công chức, viên chức gồm 15 nữ và 42 nam, trong đó có 9 thạc sĩ, 45 cử nhân đại học và 9 chuyên viên chính).

Nội dung trọng tâm của chương tập trung phân tích thực trạng vốn con người tỉnh Bình Định giai đoạn 2018 – 2020:

  • Quy mô dân số và lực lượng lao động: Năm 2020, dân số toàn tỉnh đạt 1.487.903 người, mật độ 246 người/km²; dân số trong độ tuổi lao động chiếm 58,8%. Tổng lực lượng lao động có xu hướng giảm nhẹ từ 907.259 người (năm 2018) xuống 891.238 người (năm 2019) và 869.135 người (năm 2020). Tỷ lệ lao động khu vực nông thôn giảm từ 69,3% (năm 2018) xuống 59,2% (năm 2020), phản ánh sự dịch chuyển dân cư sang thành thị.
  • Cơ cấu và chất lượng lao động: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn chiếm tỷ trọng lao động lớn nhất (37,1% năm 2018 với 328.728 lao động). Lao động qua đào tạo chiếm tỷ lệ thấp nhưng có xu hướng tăng: tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc đã qua đào tạo tăng từ 17,37% (năm 2018) lên 24,0% (năm 2020). Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề và bồi dưỡng nghề đạt lần lượt 52% (2018), 54,4% (2019) và 56% (2020). Công tác giải quyết việc làm mới duy trì ở mức cao: năm 2018 giải quyết 29.917 người; năm 2019 đạt 30.552 người; năm 2020 đạt trên 21.000 người. Hoạt động xuất khẩu lao động đưa được 605 người (2018), 735 người (2019) và 435 người (2020, đạt 54,4% kế hoạch do ảnh hưởng của dịch Covid-19).
  • Các chỉ tiêu về giáo dục và y tế: Tỷ lệ lao động biết đọc, biết viết duy trì ở mức cao (96,29% năm 2018; 97,20% năm 2019; 96,51% năm 2020). Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT đạt 96,7% (2018), 92,9% (2019) và 98,5% (2020). Mạng lưới trường chuẩn quốc gia đạt 388 trường (2018), 379 trường (2019) và 385 trường (2020). Về y tế, số giường bệnh tăng từ 4.772 giường (2018) lên 5.038 giường (2020); toàn tỉnh có 21 bệnh viện, 1 bệnh viện da liễu, 5 phòng khám đa khoa khu vực và 159 trạm y tế xã/phường. Đội ngũ nhân lực ngành y duy trì trên 5.500 người (năm 2020 có 1.418 bác sĩ, 588 y sĩ, 2.362 điều dưỡng, 453 hộ sinh, 583 kỹ thuật viên y). Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế mở rộng mạnh mẽ từ 89,7% (2018) lên 91,6% (2019) và 95,73% (2020). Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân ở trẻ dưới 5 tuổi giảm từ 9,7% xuống 8,3%.
  • Mức sống dân cư: Thu nhập bình quân đầu người một tháng tăng từ 3.024.000 đồng (2018) lên 3.354.600 đồng (2019) và 3.441.000 đồng (2020). Tỷ lệ hộ nghèo tiếp cận đa chiều giảm từ mức trên 7% xuống 5,33% (năm 2019) và còn 4,18% (năm 2020).

Bảng tổng hợp một số chỉ tiêu phát triển vốn con người tỉnh Bình Định giai đoạn 2018 – 2020 trích xuất từ văn bản:

Nhóm chỉ tiêu Chỉ tiêu cụ thể Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020
Dân số & Lao động Tổng dân số (người) 1.487.771 1.487.817 1.487.903
Lực lượng lao động (người) 907.259 891.238 869.135
Tỷ lệ lao động qua đào tạo (%) 17,37 21,50 24,00
Tỷ lệ LĐ qua đào tạo/bồi dưỡng nghề (%) 52,00 54,40 56,00
Giải quyết việc làm mới (người) 29.917 30.552 >21.000
Giáo dục Tỷ lệ lao động biết chữ (%) 96,29 97,20 96,51
Tỷ lệ tốt nghiệp THPT (%) 96,70 92,90 98,50
Số trường đạt chuẩn quốc gia (trường) 388 379 385
Y tế & Mức sống Tổng số giường bệnh (giường) 4.772 4.908 5.038
Nhân lực ngành y (người) 5.826 5.539 5.565
Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế (%) 89,70 91,60 95,73
Suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi (%) 9,70 9,00 8,30
Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều (%) 7,01 5,33 4,18
Thu nhập bình quân đầu người (nghìn đồng/tháng) 3.024,0 3.354,6 3.441,0

Chương 4: Đánh giá chung, phương hướng và giải pháp để nâng cao chất lượng vốn con người

Chương này tổng kết các thành tựu và hạn chế nổi bật. Điểm sáng của tỉnh là phổ cập giáo dục vững chắc, mạng lưới y tế cơ sở và y tế chuyên sâu được mở rộng (đưa vào vận hành Bệnh viện Đa khoa tỉnh phần mở rộng tháng 4/2018, hoàn thành Bệnh viện Đa khoa khu vực Bồng Sơn và Trung tâm Y tế Hoài Nhơn), tỷ lệ bao phủ BHYT đạt mức cao (95,73%). Tuy nhiên, hạn chế cố hữu là chất lượng lao động chưa đáp ứng yêu cầu nhà tuyển dụng; lao động qua đào tạo chỉ đạt khoảng 24%, phần lớn thiếu kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp; cơ cấu lao động chuyển dịch còn chậm khi tỷ trọng làm nông nghiệp vẫn chiếm trên 37%.

Trên cơ sở đó, tác giả nêu các nhóm định hướng và giải pháp cụ thể:

  1. Về giáo dục và đào tạo: Nâng cao chất lượng giảng dạy, khắc phục tình trạng bỏ học và dạy thêm học thêm sai quy định; thực hiện đồng bộ xã hội hóa giáo dục; thực hiện hiệu quả chính sách tín dụng ưu đãi học sinh, sinh viên và đầu tư ký túc xá.
  2. Về y tế và chăm sóc sức khỏe: Chủ động thực hiện y tế dự phòng, triển khai Chương trình phòng chống dịch COVID-19 (giai đoạn 2022-2023); nâng cao y đức; đẩy nhanh tiến độ đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế tuyến huyện và xã; đấu thầu công khai minh bạch thuốc và vật tư y tế.
  3. Về an sinh xã hội và thị trường lao động: Thực hiện chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà 3 tháng cho người lao động trong các khu công nghiệp (mức 1.000.000 đồng/tháng cho lao động quay lại thị trường và 500.000 đồng/tháng cho lao động đang làm việc trong 6 tháng đầu năm 2022); triển khai các gói tín dụng chính sách qua Ngân hàng Chính sách xã hội để hỗ trợ giải quyết việc làm.

Kết quả và đóng góp

Về kết quả phân tích số liệu, khóa luận đã lượng hóa bức tranh toàn diện về các mặt lượng và chất của nguồn nhân lực tỉnh Bình Định trong giai đoạn bản lề 2018 – 2020:

  • Về quy mô lực lượng: Tổng lực lượng lao động giảm nhẹ từ 907.259 người xuống 869.135 người, nhưng tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng trưởng đều đặn từ 17,37% lên 24,0% (đào tạo và bồi dưỡng nghề đạt 56% năm 2020).
  • Về điều kiện giáo dục và y tế: Tỷ lệ biết chữ bình quân đạt 96,3% - 97,2%, cao hơn 1,4% so với bình quân cả nước và cao hơn 1% so với vùng Duyên hải Nam Trung Bộ. Hạ tầng y tế tăng thêm 266 giường bệnh trong 3 năm, nâng tỷ lệ tham gia BHYT lên 95,73% và kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 4,18%.
  • Về mặt chính sách thực tiễn: Khóa luận đề xuất được hệ thống giải pháp gắn với thực tế điều hành của Sở Kế hoạch và Đầu tư, tiêu biểu là các gói hỗ trợ tiền thuê nhà cho lao động công nghiệp phục hồi sau dịch Covid-19 và cơ chế vay vốn tạo việc làm.

Đóng góp tự thân của nghiên cứu thể hiện ở việc tác giả đã trực tiếp tiếp cận nguồn số liệu hành chính nội bộ tại các phòng chuyên môn của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Định kết hợp niên giám thống kê, tạo lập bộ dữ liệu chuỗi 11 năm (2010–2020) để kiểm định vai trò của các biến số giáo dục, y tế đối với tăng trưởng kinh tế địa phương, bổ sung bằng chứng thực nghiệm về vốn con người cấp tỉnh tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự nhận diện các giới hạn nghiên cứu chính sau:

  • Hạn chế về dữ liệu và số lượng quan sát: Bộ số liệu thứ cấp phục vụ mô hình hồi quy chuỗi thời gian chỉ thu thập được 11 năm (tương ứng 11 quan sát từ 2010 đến 2020), do tác giả gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận và xử lý số liệu thống kê lịch sử đồng nhất ở cấp địa phương. Số lượng quan sát nhỏ là hạn chế lớn về mặt kỹ thuật kinh tế lượng.
  • Hạn chế về chỉ tiêu đo lường: Do giới hạn nguồn dữ liệu cấp tỉnh, tác giả phải sử dụng các chỉ tiêu đo lường đại diện gián tiếp cho vốn con người (như tỷ lệ biết chữ, số lượng cán bộ y tế, tỷ lệ chi tiêu ngân sách) thay vì các thước đo trực tiếp phản ánh năng suất thực tế hay số năm đi học bình quân chuẩn hóa theo chất lượng.
  • Hướng mở nghiên cứu: Đề tài cần được mở rộng chuỗi thời gian quan sát dài hơn hoặc chuyển sang tiếp cận dữ liệu bảng (panel data) cấp huyện/thị xã/thành phố trực thuộc tỉnh Bình Định, đồng thời xem xét phân tích sâu hơn độ trễ tác động của chi tiêu công cho giáo dục và y tế đến tăng trưởng kinh tế địa phương.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên ngành Kinh tế, Kinh tế Đầu tư, Kinh tế Phát triển: Cung cấp tài liệu tham khảo chi tiết về quy trình ứng dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas mở rộng có biến vốn con người, đặc biệt là phương pháp tính toán trữ lượng vốn vật chất ($K$) theo mô hình tích lũy của Krueger và Lindahl với mức khấu hao giả định 5%.
  • Người làm nghiên cứu thực nghiệm cấp địa phương: Tài liệu hệ thống hóa khung bảng biểu thống kê chi tiết về lao động, việc làm, cơ cấu nghề nghiệp, các chỉ số giáo dục và y tế của tỉnh Bình Định giai đoạn 2018 – 2020, làm nguồn dẫn chứng thứ cấp đáng tin cậy.
  • Cán bộ hoạch định chính sách tại Sở Kế hoạch và Đầu tư: Nội dung phân tích tổ chức bộ máy và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực tại Chương 3 cung cấp góc nhìn tham mưu hữu ích cho công tác xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và phân bổ nguồn lực đầu tư công cho an sinh xã hội.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng mô hình kinh tế lượng nào để đánh giá tác động của vốn con người đến tăng trưởng kinh tế?
Khóa luận sử dụng mô hình hồi quy dựa trên hàm sản xuất Cobb-Douglas mở rộng dạng logarit tự nhiên: $\ln Y_t = \alpha_0 + \alpha \ln K_t + \beta \ln L_t + \delta \ln H_t + u_{it}$. Trong đó, $Y$ là GRDP so sánh năm 2010, $K$ là trữ lượng vốn vật chất (tính tích lũy với tỷ lệ khấu hao $\lambda = 5%$), $L$ là quy mô lao động trên 15 tuổi, và $H$ là vectơ các biến đại diện chất lượng vốn con người gồm giáo dục, y tế và chi tiêu công.

2. Tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh Bình Định biến động như thế nào trong giai đoạn 2018 - 2020?
Theo số liệu thống kê trong văn bản, tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc đã qua đào tạo tăng từ 17,37% năm 2018 lên 24,0% năm 2020. Xét theo chỉ tiêu lao động qua đào tạo nghề và bồi dưỡng nghề, tỷ lệ này đạt 52% (năm 2018), 54,4% (năm 2019) và 56% (năm 2020).

3. Tỷ lệ hộ nghèo tiếp cận đa chiều và thu nhập bình quân đầu người của tỉnh thay đổi ra sao trong văn bản?
Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều của Bình Định giảm liên tục: từ mức trên 7% (năm 2018) xuống 5,33% (năm 2019) và còn 4,18% (năm 2020). Song song đó, thu nhập bình quân đầu người một tháng tăng từ 3.024.000 đồng (năm 2018) lên 3.354.600 đồng (năm 2019) và đạt 3.441.000 đồng (năm 2020).

4. Dữ liệu thực nghiệm của khóa luận được thu thập trong bao nhiêu năm và từ những nguồn nào?
Dữ liệu nghiên cứu bao gồm chuỗi thời gian 11 năm (2010 – 2020) với 11 quan sát, được thu thập từ 3 nguồn chính: Niên giám thống kê tỉnh Bình Định (các năm 2016, 2017, 2018), Báo cáo kinh tế và xã hội Bình Định 5 năm 2016 – 2020, và các hồ sơ số liệu từ Phòng Tổng hợp – Quy hoạch thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Định.

5. Tác giả đề xuất biện pháp hỗ trợ trực tiếp nào cho người lao động bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh trong năm 2022?
Tác giả đề xuất thực hiện chính sách hỗ trợ 3 tháng tiền thuê nhà cho người lao động trong các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu vực kinh tế trọng điểm trong 6 tháng đầu năm 2022. Mức hỗ trợ cụ thể là 1.000.000 đồng/tháng đối với lao động quay trở lại thị trường và 500.000 đồng/tháng đối với lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Phạm Thị Khánh Ly đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về vai trò của vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế, đồng thời phản ánh chi tiết thực trạng lao động, giáo dục, y tế và mức sống tại tỉnh Bình Định giai đoạn 2018 – 2020. Mặc dù gặp hạn chế nhất định về chuỗi dữ liệu kinh tế lượng 11 năm, công trình đã cung cấp bức tranh số liệu xác thực, chỉ rõ điểm nghẽn về tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp (24%) và sự chậm trễ trong chuyển dịch cơ cấu việc làm nông nghiệp. Các giải pháp do tác giả đề xuất bám sát thẩm quyền quản lý nhà nước của Sở Kế hoạch và Đầu tư, đem lại giá trị tư liệu thực tiễn cho nghiên cứu kinh tế phát triển cấp tỉnh.