đặt vấn đề, mục tiêu của đề tài và sau đó tóm lược về phương pháp nghiên cứu. Chương II: Cơ Sở Lý Luận và Lược Khảo Nghiên Cứu Trước Tác giả trình bày về cơ sở ghiên cứu, một số khái niệm sẽ sử dụng trong các phần sau đó của đề tài. Tác giả cũng trình bày về các nghiên cứu đã được thực hiện rước đây tại các nước và một số kết quả của các nghiên cứu đó. Chương III: Phương Pháp Nghiên Cứu và Thu Thập Dữ Liệu Trong chương III, tác giả giới thiệu về khung phân tích của nghiên cứu.
Từ đó giới thiệu về phương pháp tiến hành các phân tích của nghiên cứu gồm thống kê mô tả và phân tích mối liên hệ áp dụng các mô hình hồi quy. Các biến số, đối tượng khảo sát và phương pháp thu thập các dữ liệu của nghiên cứu cũng được trình bày chi tiết trong chương này. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Chương IV: Kết Quả Nghiên Cứu Các kết của phân tích dữ liệu sẽ được trình bày trong chương IV này. Kết quả phân tích của nghiên cứu bao gồm: các kết quả phân tích thống kê mô tả về bộ dữ liêu của nghiên cứu, các kết quả và phân tích liên quan đến sự thay đổi của việc làm và thu nhập sau điều trị, kết quả của các phân tích hồi quy.
Cùng với các kết quả của nghiên cứu, tác giả cũng trình bày phần bàn luận so sánh giữa kết quả của nghiên cứu và một số kết quả của các nghiên cứu lược thảo khác. Sự so sánh và bàn luận này sẽ cho thấy bức tranh về tác động của bệnh ung thư tới vấn đề việc làm của các bệnh nhân ở Việt Nam có sự tương đồng và khác biệt như hế nào so với các nước trên thế giới. Chương V: Kết Luận và Kiến Nghị Trong chương V, tác giả sẽ tổng kết và rút ra các ưu điểm và khuyết điểm của đề tài. đồng thời trình bày các ý kiến cá nhân cho hướng nghiên cứu này trong tương lai.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Chương 2 - Cơ Sở Lý Luận Và Lược Khảo Các Nghiên Cứu Trước Nội dung của chương 2 sẽ bao gồm giới thiệu một số khái niệm liên quan đến người bệnh, bệnh lý và việc làm. Đây là các khái niệm sẽ được sử dụng để diễn giải, giải thích các phần nội dung của đề tài này. Chương 2 cũng bao gồm các phần lược thảo nội dung của các ghiên cứu đã được thực hiện trước đó ở các nước về việc làm và bệnh ung thư. Trên cơ sở phân tích về phương pháp và kết quả của các nghiên cứu được lược thảo, tác giả sẽ tiến hành việc xây dựng khung phân tích, phương pháp nghiên cho đề tài và sẽ được trình bày chi tiết trong chương 3.1 Cơ sở lý luận Bệnh ung thư là một vấn đề sức khỏe ảnh hưởng đến cá nhân bệnh nhân, gia đình người bệnh và xã hội.
Người bệnh phải chịu nhiều tác động của bệnh tật và áp lực về các chi phí điều trị, áp lực về nguy cơ phải ngừng làm việc do vấn đề sức khỏe. Xã hội sẽ phải chịu các gánh nặng xã hội do bệnh tật của người dân, thiếu hụt về lực lượng lao động xã hội. Nhiều nghiên cứu về tác động của bệnh ung thư đối với việc làm đã được thực hiện tại nhiều nước khác nhau. Một số nhà nghiên cứu đã liên kết được tình trạng làm việc với việc cải thiện chất lượng cuộc sống, cải thiện tâm lí người bệnh.
Các nghiên cứu đã tiến hành khảo sát trên nhiều khía cạnh và yếu tố khác nhau từ đặc tính cá nhân của người bệnh, các yếu tố tác động tới các vấn đề việc làm của người bệnh, các loại bệnh ung thư khác nhau, các hình thức việc làm, các tác động tâm lý. Cũng thông qua các nghiên như trên, một số khái niệm liên quan việc làm đã được giới thiệu, một số các thang đo đánh giá tâm lý, chất lượng cuộc sống đã được thiết lập. Tại Việt Nam các vấn đề về tác động của bệnh tật nói chung và bệnh ung thư nói riêng đối với cuộc sống, việc làm và tâm lý người bệnh vẫn còn là một điều mới mẻ và chưa được đề cập đến. Đặc biệt đối với bệnh ung thư, người bệnh phải chịu một áp lực tâm lý khá lớn và một hệ quả điều trị khá nặng nề so với nhiều loại bệnh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Các vấn đề liên quan đến tác động về tâm lý, cuộc sống và việc làm của bệnh nhân sau chẩn đoán và điều trị càng chưa được quan tâm đến. Do đó, dựa trên các nghiên cứu và các lý thuyết đã được đề cập trong các nghiên cứu trước đây tại các nước phát triển về vấn đề việc làm, tác động của việc điều trị bệnh ung thư đối với việc làm, đối với chất lượng sống của người bệnh. Từ đó học viên xây dựng một mô hình các biến số, thiết lập các khung khái niệm, khung phân tích để đánh giá xem sự tác động của bệnh ung thư tới việc làm của người bệnh và các yếu tố có liên quan, anh hưởng tới việc ngưng hay trở lại làm việc của bệnh nhân tại Việt Nam như thế nào. Các lý thuyết và nghiên cứu trên cũng là cơ sở để học viên lược khảo từ đó tạo lập mô hình nghiê cứu, hoàn chỉnh các khung khái niệm, khung phân tích và các biến số của mô hình hồi quy.2 Khái quát về nghiên cứu tác động của bệnh ung thư và việc làm 2.1 Khái niệm về lao động Lao động là một hành động diễn ra giữa con người với giới tự nhiên, trong lao động con người đã vận dụng trí lực và thể lực cùng với công cụ tác động vào giới tự nhiên tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, đời sống con người, lao động là một yếu tố tất yếu không thể thiếu được của con người, nó là hoạt động rất cần thiết và gắn chặt với lợi ích của con người.2 Khái niệm việc làm Hiện nay, đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về việc làm.
Trong đề tài này, để hiểu rõ khái niệm và bản chất của việc làm, tác giả liên hệ đến khái niệm về lao động vì giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Bản thân mỗi con người trong nền sản xuất xã hội đều chiếm giữ những vị trí nhất định. Mỗi vị trí mà người lao động chiếm giữ trong hệ thống sản xuất xã hội với tư cách là một sự kết hợp của các yếu tố khác trong quá trình sản xuất được gọi là chỗ làm hay việc làm. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Như vậy, việc làm là một khái niệm tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất.
Người lao động được coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của một xã hội. Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội và cho chính bản thân. Ngoài ra về mặt pháp lý, theo Bộ luật Lao động Việt Nam đã quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” đều được thừa nhận là việc làm (theo Bộ luật lao động 2012) Như vậy, dưới góc độ pháp lý, việc làm được cấu thành bởi 3 yếu tố: - Là hoạt động lao động: thể hiện sự tác động của sức lao động vào tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ. Yếu tố lao động trong việc làm phải có tính hệ thống, tính thường xuyên và tính nghề nghiệp.
Vì vậy người có việc làm thông thường phải là những người thể hiện các hoạt động lao động trong phạm vi nghề nhất định và trong thời gian tương đối ổn định. - Tạo ra thu nhập: Là khoản thu nhập trực tiếp và khản năng tạo ra thu nhập. - Hoạt động này phải hợp pháp: hoạt động lao động tạo ra thu nhập nhưng trái pháp luật, không được pháp luật thừa nhận thì không được coi là việc làm. Trên thực tế, việc làm được thừa nhận dưới 3 hình thức: - Làm công việc để nhận được tiền lương, tiền công hoặc hiện vật cho công việc đó - Làm công việc để thu lợi cho bản thân, mà bản thân lại có quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất để tiến hành công việc đó - Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó.
Hình thức này bao gồm sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên khác trong gia đình có quyền sử dụng, sở hữu hoặc quản lý. Các khái niệm trên nói chung khá bao quát, nhưng chúng vẫn còn hai hạn chế cơ bản. Thứ nhất, hoạt động nội trợ không được coi là việc làm, trong khi đó hoạt động nội trợ tạo ra các lợi ích phi vật chất và gián tiếp tạo ra lợi ích vật chất không hề TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Thứ hai, khó có thể so sánh tỷ lệ người có việc làm giữa các quốc gia với nhau vì quan niệm về việc làm giữa các quốc gia có thể khác nhau, phụ thuộc vào luật pháp, phong tục tập quán.
Có những nghề ở quốc gia này thì được cho phép và được coi là việc làm, nhưng ở quốc gia khác thì không được phép (Khái niệm việc làm, 9/11/2017 tại Website <https://luanvanaz.com/khai-niem-viec-lam. Trong nghiên cứu này của tác giả thì hoạt động nội trợ không được coi là việc làm, và những người hoạt động nội trợ được coi là không có việc làm. Tùy theo các mục đích nghiên cứu khác nhau mà việc làm được phân chia ra thành nhiều loại (Khái niệm việc làm, 9/11/2017 tại Website <https://luanvanaz.com/khai-niem-viec-lam.html>): - Theo mức độ sử dụng thời gian làm việc, có việc làm chính và việc làm phụ. Việc làm chính là công việc mà người thực hiện giành nhiều thời gian nhất hoặc có thu nhập cao hơn so với công việc khác.
Việc làm phụ là công việc mà người thực hiện giành nhiều thời gian nhất sau công việc chính. - Ngoài ra, người ta còn chia việc làm thành việc làm toàn thời gian, việc làm bán thời gian, việc làm thêm. o Việc làm toàn thời gian: Chỉ một công việc làm 8 tiếng mỗi ngày, hoặc theo giờ hành chính 8 tiếng mỗi ngày và 5 ngày trong tuần.