Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương này giới thiệu rõ về nội dung tổng quát của bài nghiên cứu: tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu tác động tỷ giá hối đoái đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngành vận tải biển, đối tượng và mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp và ý nghĩa của bài nghiên cứu. - Chương 2: Cở sở lý thuyết về tác động của tỷ giá đến tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu. Trong chương 2 này, nhóm nghiên cứu trình bày về các khái niệm, tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến tỷ giá hối đoái, tỷ suất sinh lợi cổ phiếu và mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái tỷ suất sinh lợi cổ phiếu của doanh nghiệp, tổng quan về ngành vận tải biển Việt Nam và nêu các giả thuyết nghiên cứu. - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Nội dung chương này trình bày mô hình nghiên cứu phù hợp, các bước thu thập các dữ liệu, đưa ra các phương pháp phân tích, xây dựng và đo lường các biến có trong mô hình nghiên cứu.
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trình bày chi tiết kết quả nghiên cứu của các phương pháp mà nhóm đã lựa chọn để phân tích về sự tác động của tỷ giá đến tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu của các doanh nghiệp ngành vận tải biển được niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam. - Chương 5: Thảo luận nghiên cứu Ở chương này, nhóm nghiên cứu tổng hợp và trình bày ý kiến về nghiên quả nghiên cứu ở chương 4 và so sánh các kết quả của bài nghiên cứu với các nghiên cứu thực nghiệm đã được tổng hợp ở chương 2, qua đó đưa ra những nhận định về tác động của tỷ giá hối đoái tới tỷ suất sinh lợi cổ phiếu của doanh nghiệp. 4 - Chương 6: Kết luận và kiến nghị Trên cở sở các kết quả nghiên cứu ở chương 4 và 5, chương này đưa ra kết luận cho bài nghiên cứu và kiến nghị, đề xuất giải pháp cho các nhà đầu tư có ý định đầu tư vào cổ phiếu của các công ty ngành vận tải biển. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỜI CỔ PHIẾU NGÀNH VẬN TẢI BIỂN 2.
Tỷ suất sinh lợi cổ phiếu Tỷ suất sinh lợi cổ phiếu là chỉ tiêu quan trọng trong đầu tư và được xác định bằng tỷ lệ phần trăm giữa mức lợi nhuận thu được và giá trị của khoản đầu tư bỏ ra (Mishkin, 2015). Vì vậy, các yếu tố ảnh hưởng đến TSSL luôn được quan tâm lớn của các chuyên gia tài chính và các nhà đầu tư. Trong lý thuyết thị trường hiệu quả (EMH) đã cho rằng tất cả các thông tin về tài sản sẽ được phản ảnh vào giá, cho nên giá cổ phiếu sẽ biến động ngẫu nhiên và không thể dự báo được do các nhà đầu tư đã tận dụng hết các cơ hội kinh doanh chênh lệch giá (Fama, 1965; Mandelbrot, 1963; Sharpe, 1964). Nhưng cũng có một số nghiên cứu đưa ra kết quả ngược lại rằng thị trường sẽ không hoàn toàn hiệu quả, sẽ có những thời điểm giá trị tài sản định giá sai (Ross, 1976).
Theo nghiên cứu của Maroney và Protopapadakis (2002) đã kiểm định mô hình 3 nhân tố Fama – French trên thị trường chứng khoán ở các nước: Australia, Canada, Đức, Pháp, Nhật, Anh và Mỹ và cho thấy sự ảnh hưởng của quy mô và giá trị công ty đến tỷ suất sinh lời của các cổ phiếu đều được tìm thấy ở tất cả các thị trường. Trong nghiên cứu của Jegadeesh và Titman (1993) đã chứng minh rằng TSSL của chứng khoán ở Mỹ có thể hiện tính xu hướng tăng, tức là các cổ phiếu có TSSL tốt trong thời kỳ trước đó thì có xu hướng tiếp tục tăng. Nghiên cứu của Wei (2010) cho rằng trong phần bù thể hiện tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu giá trị cao hơn cổ phiếu tăng trưởng và tính xu hướng cũng được tìm thấy trong tỷ suất sinh lợi chứng. 5 - Chương 6: Kết luận và kiến nghị Trên cở sở các kết quả nghiên cứu ở chương 4 và 5, chương này đưa ra kết luận cho bài nghiên cứu và kiến nghị, đề xuất giải pháp cho các nhà đầu tư có ý định đầu tư vào cổ phiếu của các công ty ngành vận tải biển.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỜI CỔ PHIẾU NGÀNH VẬN TẢI BIỂN 2. Tỷ suất sinh lợi cổ phiếu Tỷ suất sinh lợi cổ phiếu là chỉ tiêu quan trọng trong đầu tư và được xác định bằng tỷ lệ phần trăm giữa mức lợi nhuận thu được và giá trị của khoản đầu tư bỏ ra (Mishkin, 2015). Vì vậy, các yếu tố ảnh hưởng đến TSSL luôn được quan tâm lớn của các chuyên gia tài chính và các nhà đầu tư. Trong lý thuyết thị trường hiệu quả (EMH) đã cho rằng tất cả các thông tin về tài sản sẽ được phản ảnh vào giá, cho nên giá cổ phiếu sẽ biến động ngẫu nhiên và không thể dự báo được do các nhà đầu tư đã tận dụng hết các cơ hội kinh doanh chênh lệch giá (Fama, 1965; Mandelbrot, 1963; Sharpe, 1964).
Nhưng cũng có một số nghiên cứu đưa ra kết quả ngược lại rằng thị trường sẽ không hoàn toàn hiệu quả, sẽ có những thời điểm giá trị tài sản định giá sai (Ross, 1976). Theo nghiên cứu của Maroney và Protopapadakis (2002) đã kiểm định mô hình 3 nhân tố Fama – French trên thị trường chứng khoán ở các nước: Australia, Canada, Đức, Pháp, Nhật, Anh và Mỹ và cho thấy sự ảnh hưởng của quy mô và giá trị công ty đến tỷ suất sinh lời của các cổ phiếu đều được tìm thấy ở tất cả các thị trường. Trong nghiên cứu của Jegadeesh và Titman (1993) đã chứng minh rằng TSSL của chứng khoán ở Mỹ có thể hiện tính xu hướng tăng, tức là các cổ phiếu có TSSL tốt trong thời kỳ trước đó thì có xu hướng tiếp tục tăng. Nghiên cứu của Wei (2010) cho rằng trong phần bù thể hiện tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu giá trị cao hơn cổ phiếu tăng trưởng và tính xu hướng cũng được tìm thấy trong tỷ suất sinh lợi chứng.
5 Ngoài các lý thuyết giải thích sự biến động giá cổ phiếu, cũng có nhiều mô hình được xây dựng và phát triển trong việc dự đoán giá cổ phiếu. Các mô hình này đều tập trung nghiên cứu và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến TSSL. Điển hình như mô hình định giá tài sản chỉ cho rằng TSSL của cổ phiếu chỉ phụ thuộc vào TSSL của danh mục thị trường (Shape, 1964). Sau đó, nhiều nghiên cứu cho thấy TSSL cổ phiếu còn chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác nhau trong các giai đoạn khác nhau, chẳng hạn như quy mô, lợi nhuận, tỷ giá, giá trị doanh nghiệp ….
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về TSSL của cổ phiếu chủ yếu kiểm định sự phù hợp của các mô hình định giá cổ phiếu như nghiên cứu của Trần Thị Tuấn Anh & Phạm Thị Hoài Thu (2017) sử dụng dữ liệu giá đóng cửa hàng ngày thu thập của 242 công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2012 -2016 để phân tích tác động của downside đến TSSL của từng ngành khi sử dụng phương pháp hồi quy chéo Fama và Macbeth (1973) và so sánh kết quả phân tích khi sử dụng hệ số beta trong mô hình CAPM. Một số nghiên cứu về các nhân tố tác động đến TSSL của cổ phiếu bằng các mô hình Fama và French ba nhân tố như nghiên cứu của Trần Thị Hải Lý (2010), Phạm Hữu Hồng Thái (2015), một số nghiên cứu của Võ Hồng Đức và Mai Duy Tân hay nghiên cứu của Võ Xuân Vinh và Đặng Quốc Thành (2016) sử dụng mô hình Fama và French năm nhân tố để kiểm chứng sự phù hợp của mô hình định giá cổ phiếu. Ngoài ra, TSSL của cổ phiếu còn chịu tác động của các yếu tố truyền thống như: Quy mô doanh nghiệp, giá trị doanh nghiệp, lợi nhuận và các nghiên cứu còn tìm thấy tác động của lãi suất, tỷ giá, giá vàng, lạm phát, lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu như nghiên cứu của Trương Đông Lộc (2014) đã sử dụng phương pháp phân tích hồi quy để phân tích giá cổ phiếu và lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS) của 20 cổ phiếu niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2006 -2012. Gần đây nhất có bài nghiên cứu của Nguyễn Văn Điệp và Lê Duy Khang (2021) về phân tích tác động của Coivid 19 đến TSSL và rủi ro của các cổ phiếu ngành du lịch và giải trí Việt Nam được niêm yết trên sàn chứng khoán Hà Nội và sàn chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh bằng phương pháp hồi quy OLS, kết quả cho thấy biến TSSL của cổ phiếu ngành du lịch và giải trí không bị ảnh hưởng bởi yếu tố Covid- 19 nhưng đã làm gia tăng sự biến động TSSL của cổ phiếu của ngành này.
6 Nhìn chung, có thể thấy qua các kết quả nghiên cứu trước đây, TSSL của cổ phiếu luôn nhận được sự quan tâm nhất định, tuy nhiên các nghiên cứu kiểm chứng cho ra các kết quả khác nhau và không có sự đồng nhất về tác động của các yếu tố đến TSSL cổ phiếu. Biến trễ tỷ suất sinh lợi cổ phiếu Trễ bậc p của biến Xt kí hiệu Xt-p: là giá trị của X nhưng chậm hơn p thời kì. Biến trễ bậc 1 tỷ suất sinh lợi cổ phiếu (TSSL) là TSSLt-1: là giá trị của tỷ suất sinh lợi cổ phiếu nhưng chậm hơn 1 thời kỳ. tương tự biến trễ bậc 2 sẽ chậm hơn 2 thời kỳ, biến trễ bậc 3 sẽ chậm hơn 3 thời kỳ.
Ta có thể ví dụ từ biến tỷ giá: năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 t 1 2 3 4 5 6 E(t) 14514 15084 15403 15646 15777 15916 E(t-1) _ 14514 15084 15403 15646 15777 Tùy thuộc vào cách sử dụng của mỗi cá nhân. Ngoài đơn vị là năm ra có thể dùng quý hoặc tháng để sử dụng biến trễ tương tự như đơn vị năm. Khi sử dụng biến trễ trong ước lượng mô hình thì chắc chắn mô hình sẽ tiềm ẩn hiện tượng nội sinh, điều này sẽ khiến cho các ước lượng như OLS, FEM, REM không còn vững. Vì thế cần phải chọn một phương pháp khác để xử lý hiện tượng nội sinh khi sử dụng biến trễ trong mô hình.
Tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái là mức giá tại một thời điểm đồng tiền của quốc gia này có thể được chuyển đổi sang đồng tiền của quốc gia khác. Và được xác định bằng số đơn vị nội tệ trên một đơn vị ngoại tệ.