Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Cơ sỡ lý thuyết và các nghiên cứu liên quan. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Phân tích tác động của tự do kinh tế tới tăng trưởng các nhóm thu nhập khác nhau trên thế giới.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Chương này sẽ trình bày các khái niệm như: Tự do kinh tế, các khu vực của tự do kinh tế,nền tảng kinh tế vĩ mô. Phương pháp tiếp cận về tự do kinh tế cung như các nghiên cứu trước về tư do kinh tế. Tự do kinh tế: Tư tưởng tự do và những lý tưởng tư bản chủ nghĩa đã được hình thành từ thời Adam Smith, John Locke, và gần đây là của Milton Friedman.
Kể từ thời Adam Smith, các nhà kinh tế học đã tin rằng tự do lựa chọn nguồn cung và cầu, cạnh tranh trong kinh doanh, thương mại với các nước khác, và đảm bảo quyền tài sản là thành phần thiết yếu của tiến bộ kinh tế (North và Thomas, 1973). Smith (1776-1937) nhấn mạnh bàn tay vô hình của thị trường trong việc làm gia tăng sự giàu có của các quốc gia. David Ricardo (1821-1912) ủng hộ tự do thương mại như là phương tiện của việc tạo ra tăng trưởng kinh tế. Milton Friedman khẳng định “Tôi tin rằng các xã hội tự do xuất hiện và tồn tại chỉ bởi vì: tự do kinh tế mang lại hiệu quả về mặt kinh tế nhiều hơn nhiều so với các phương pháp khác trong việc kiểm soát hoạt động kinh tế” (Lời tựa trong Gwartney et al., 1996), nền tảng của khái niệm tự do kinh tế.
Trong tác phẩm Hiến pháp tự do của Hayek (1960), ông phân tích tự do kinh tế nên được hiểu như là sự tự do dưới pháp luật của Chính phủ, và tự do không phải là sự vắng mặt của tất cả các hành động của chính phủ. Như vậy, tự do kinh tế không có nghĩa là tự do theo nghĩa tuyệt đối; một số hành động của chính phủ phải được tồn tại. Do đó, cưỡng chế là một khái niệm rất quan trọng để làm nên ý nghĩa của tự do. Hayek lập luận, " tự do đòi hỏi cưỡng chế và bạo lực, gian lận và dối trá phải được ngăn chặn, ngoại trừ việc sử dụng cưỡng chế của chính phủ cho mục đích là đảm bảo các điều kiện tốt nhất, theo đó các hoạt động của mỗi cá nhân được liền mạch và hiệu quả.
Nếu cưỡng chế nhà nước vượt quá giới hạn quy định, tự do kinh tế sẽ bị tổn thương. Do đó, xã hội cần những quy phạm mà áp đặt các hạn chế lên sức mạnh cưỡng chế của chính phủ về cách thức mà chính phủ thực hiện sức mạnh của mình. Trong báo cáo của The Heritage Foundation mới nhất năm 2016 mô tả tự do kinh tế (Economic Freedom) là: "quyền cơ bản của mỗi con người có thể kiểm soát tài sản hoặc lao động của mình. Trong một xã hội tự do kinh tế, cá nhân được tự do làm việc, sản xuất, tiêu thụ và đầu tư trong bất kỳ cách nào họ muốn.
Trong xã hội tự do về 5 kinh tế, chính phủ cho phép lao động, vốn và hàng hóa di chuyển tự do, và hoàn toàn không có chèn ép hay giới hạn tự do kinh tế ngoại trừ những giới hạn tối thiểu cầnthiết để bảo vệ và duy trì tự do ". Chỉ số tự do kinh tế (Indices of Economic Freedom) đo lường chính sách tự do kinh doanh ở các quốc gia trên thế giới. Trong báo cáo của Economic Freedom of the World 2014 của Gwartney, Lawson and Hall (2014) tự do kinh tế tồn tại khi cá nhân được quyền lựa chọn và tham gia vào các giao dịch miễn là họ không gây tổn hại về người hoặc tài sản của người khác. Cá nhân có quyền với thời gian, tài năng và nguồn lực của họ, nhưng họ không có quyền để có những điều này từ người khác hoặc yêu cầu người khác cung cấp cho họ.
Việc sử dụng bạo lực, trộm cắp, lừa đảo, và xâm phạm vật chất là không được chấp nhận trong một xã hội tự do kinh tế, nhưng bên cạnh đó, cá nhân được tự do lựa chọn giao dịch thương mại và hợp tác, cạnh tranh với người khác khi họ thấy phù hợp. Tóm lại, tự do kinh tế liên quan đến trao quyền cho các cá nhân, không phân biệt đối xử, và cạnh tranh công khai. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là tự do kinh tế hoàn toàn không có sự giám sát của chính phủ mà tự do kinh tế ở đây nghĩa là tự chủ và không có tình trạng hỗn loạn. Mục tiêu của tự do kinh tế không chỉ đơn giản là vắng mặt sự ép buộc hoặc hạn chế của chính phủ, nhưng là việc tạo ra và duy trì một cảm giác về quyền tự do cho tất cả mọi người.
Là cá nhân được hưởng các lợi ích của tự do kinh tế, họ lần lượt có trách nhiệm tôn trọng các quyền và tự do kinh tế của những người khác trong các quy định của pháp luật. Chính phủ được lập ra để đảm bảocông dân có được những bảo vệ cơ bản chống lại sự tàn phá của tự nhiên hoặc sự phá hoại đến từ công dân khác. Một số hành động của chính phủ là cần thiết cho các côngdân của một quốc gia nhằm bảo vệ bản thân, thúc đẩy sự phát triển hòa bình của xã hội,và tận hưởng thành quả lao động của họ. Thước đo tự do kinh tế: Có bốn bộ các thước đo tự do kinh tế: i) the Fraser Institute, ii) the Heritage Foundation, iii) Freedom House, và iv) Scully và Slottje (1991).
Hai thước đo đầu tiên được duy trì trên cơ sở liên tục cho đến hôm nay. The Fraser Institute -Gwartney et al. (1996) được coi là toàn diện nhất vì khoảng thời gian của dữ liệu. Báo cáo mới nhất (2016) trình bày dữ liệu cho giai đoạn 1970-2014.
Chỉ số này được công bố lần đầu tiên năm 1996 trong Economic Freedom of the World, đo lường mức độ mà các chính sách và thể chế của các quốc gia ủng hộ tự do kinh tế. Nhiều nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu này để kiểm tra tác động của tự do kinh tế lên đầu tư, tăng trưởng kinh tế, mức thu nhập bình quân đầu người và tỷ lệ đói 6 nghèo. Trong đó, các nền tảng của tự do kinh tế là sự lựa chọn cá nhân, trao đổi tự nguyện, tự do gia nhập thị trường và cạnh tranh, và đảm bảo quyền sở hữu tư nhân. Chỉ số tự do được tóm tắt trên năm lĩnh vực rộng.: (1) kích thước của Chính phủ: chi tiêu, thuế và các doanh nghiệp; (2) cơ cấu pháp lý và đảm bảo quyền sở hữu; (3) quyền đối với tiền tệ; (4) tự do thương mại quốc tế; và (5) quy định, tín dụng và kinh doanh.
Chính vì tính toàn diện của dữ liệu này nên đề tài này chọn dữ liệu để tiến hành nghiên cứu Các thước đo của Heritage Foundation được công bố thường niên bởi tạp chí The Wall Street Journal và Quỹ Di sản (The Heritage Foundation). Thước đo này cũng có ưu điểm về độ liên tục của dữ liệu tương tự như các thước đo của The Fraser Institute, nhưng nó được xây dựng bắt đầu vào năm 1995, bao gồm 161 quốc gia và được xuất bản hàng năm. Dữ liệu sẽ bị gián đoạn nếu một đất nước trải qua chiến tranh, bạo lực, hoặc bất kỳ sự bất ổn nghiêm trọng khác. Chỉ số Tự do Kinh tế có cái nhìn bao quát và toàn diện về kinh tế của các nước, nó đo lường 10 mảng riêng biệt của tự do kinh tế.
Một số những khía cạnh của tự do kinh tế được đánh giá là có liên quan với sự tương tác của một quốc gia với phần còn lại của thế giới, chẳng hạn như mức độ cởi mở của nền kinh tế đối với đầu tư hoặc thương mại toàn cầu. Hầu hết còn lại, tập trung vào các chính sách trong một quốc gia, đánh giá sự tự do của cá nhân trong việc sử dụng lao động hoặc tài chính của họ mà không có sự hạn chế quá mức và sự can thiệp của chính phủ. Chúng được nhóm lại thành bốn loại lớn: (1) Quy định của pháp luật (quyền tư hữu, tự do không bị tham nhũng); (2) Vai trò giới hạn của chính quyền (tự do tài khóa, độ lớn của nhà nước); (3) Hiệu quả quản lý (tự do kinh doanh, tự do lao động, tự do tiền tệ); (4) Mở cửa thị trường (tự do thương mại, tự do đầu tư, tự do tài chính). Freedom House có một loạt các chỉ số, được xây dựng không liên tục (trong đó R.
Gastil là nổi tiếng nhất) từ năm 1982 đến năm 1996. Đầu tiên nỗ lực xây dựng các thước đo tự do kinh tế được thực hiện bởi Wright (1982) và các thước đo mới nhất được xây dựng bởi Messick (1996). Chỉ số này tiếp cận tự do kinh tế và chú trọng nhiều hơn vào quyền chính trị và tự do dân sự so với the Fraser và Heritage, trong đó nhấn mạnh các hoạt động tùy nghi như chính sách tiền tệ và kích thước của chính phủ. Scully và Slottje (1991) là một cố gắng để xây dựng các thước đo đầu tiên của Freedom House.
Nó chỉ có sẵn cho năm 1980, bao gồm 144 quốc gia, và có 15 thuộc tính khác nhau, đó là: i) tự do chế độ ngoại tệ; ii) sự tự do từ dự thảo quân sự; iii) tự do tài sản; iv) tự do di chuyển; v) tự do thông tin; vi) Chỉ số quyền tự do dân sự của Gastil; vii) phân loại Gastil - Wright các loại hệ thống kinh tế; viii) quyền tự do in ấn, 7 truyền thông; ix) tự do phát sóng; x) tự do du lịch nội bộ; xi) tự do đi du lịch bên ngoài;xii) tự do tập hợp hòa bình; xiii) tự do giấy phép lao động; xiv) tự do từ tìm kiếm mà không cần giấy phép; và xv) tự do giữ bất động sản. Ngoài ra còn có chỉ số về quyền sở hữu đưa ra bởi Knack và Keefer (1995) để đánh giá rủi ro quốc gia, chẳng hạn như thực thi hợp đồng và rủi ro bị chiếm đoạt tàisản. Đo lường tự do kinh tế: Bảng 2.1 Tóm tắt các thành phần của chỉ số tự do kinh tế được đo lường bởi tổ chức The Fraser Institute. Mô tả khu vực, thành phần và thành phần con của tự do kinh tế 1.
Quy mô của chính phủ: A. Chi tiêu của chính phủ D.Thuế suất cận biên cao nhất B. Chuyển khoản và trợ cấp (i) Tỷ lệ thuê thu nhập biên cao nhất (ii) Tỷ lệ thu nhập biên và thuế suất biên C. Doanh nghiệp nhà nước và đầu tư công cao nhất 2.