Mở đầu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Cơ sở lý luận về Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility CSR) Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) là một khái niệm khá quen thuộc với các doanh nghiệp trên thế giới, đặc biệt là các công ty đa quốc gia các doanh nghiệp này đều có bộ quy tắc ứng xử, tiêu chuẩn hoạt động của doanh nghiệp được xây dựng một cách chuẩn mực và nghiêm túc, nhưng CSR vẫn là một khái niệm khá mới mẻ với các doanh nghiệp Việt Nam, và chỉ được lưu tâm và nhận thức được tầm quan trọng đối với sự sống còn của doanh nghiệp trên thương trường trong những năm gần đây. Nhìn rộng ra, CSR là một thành tố khái niệm rộng hơn đạo đức kinh doanh (Business Ethics) tiếp cận theo chiều sâu các vấn đề liên quan đến chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực xã hội trong sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp. Trong quá khứ, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận và tạo ra giá trị của các cổ đông theo (Friedman,1970). Do đó, khía cạnh tài chính dường như là động lực duy nhất để phát triển doanh nghiệp.
Sau này, quan điểm tiến triển về các bên liên quan (Stakeholder thery) bao gồm các nhà đầu tư, khách hàng, nhân viên, nhà cung cấp, chính phủ, các hiệp hội thương mại và các nhóm bảo vệ môi trường (Clarson, 1995 anh Donaldson, Preston, 1995). Theo Mohr & ctg (2001), CSR là những hoạt động tối thiểu hóa hoặc loại bỏ các mối nguy hiểm phát sinh trong xã hội cũng như tối đa hóa hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong một thời gian dài. Có nhiều quan điểm khác nhau về CSR: Quan điểm chống đối CSR cho rằng trách nhiệm duy nhất của giới quản trị trong việc điều hành một doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận. Milton Friedman (1962), trong cuốn sách “Capitalism and Freedom” (Chủ nghĩa tư bản và sự tự do) đã viết, có một và chỉ một trách nhiệm của doanh nghiệp, đó là sử dụng nguồn tài nguyên và tham gia hoạt động nhằm tăng lợi nhuận của mình miễn sao nó vẫn tuân theo các luật chơi, nghĩa là tham gia cạnh tranh công khai và tự do, không lừa gạt hay gian lận.
Theo cách nói của Friedman, chúng ta xét thấy ý kiến này mới chỉ có tác dụng hiện LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 thực hóa các quy tắc trong kinh doanh, chỉ chú ý tới việc chạy đua “nhằm tăng lợi nhuận” đúng theo mối ràng buộc của các doanh nghiệp trên thương trường là “không lừa gạt hay gian lận”. Có thể nói, khái niệm về CSR của Friedman mới chỉ nhìn nhận trách nhiệm xã hội ở một phạm vi hẹp, chỉ thấy được lợi ích trước mắt mà bỏ qua lợi ích lâu dài, đó là “phát triển nhanh, mạnh và bền vững”. Tương đồng với quan điểm của Friedman, Sethi (1975) cho rằng CSR là nâng hành vi của doanh nghiệp lên một mức phù hợp với các quy phạm, giá trị và kỳ vọng xã hội đang phổ biến. Những người theo quan điểm này lập luận rằng doanh nghiệp không có trách nhiệm với xã hội bởi doanh nghiệp khi thực hiện hoạt động kinh doanh đã phải đóng thuế cho Nhà nước vì vậy doanh nghiệp chỉ có trách nhiệm với cổ đông và người lao động của doanh nghiệp mà thôi.
Ngược lại với các quan điểm trên, những người ủng hộ CSR lại cho rằng nhà quản trị phải quan tâm tới tác động của doanh nghiệp đến lợi ích chung của xã hội chứ không chỉ lợi nhuận. Beyer (1972) và Drucker (1974) cho rằng CSR chính là tổ chức nên thực hiện các hoạt động xã hội nhằm tạo ra phúc lợi cho cộng đồng. Bởi vì các tổ chức thu được nhiều lợi nhuận từ cộng đồng và làm giảm nguồn tài nguyên thiên nhiên của xã hội, do vậy họ phải có trách nhiệm cải thiện môi trường và các nguồn tài nguyên khác, cũng như cải thiện mức sống cho toàn xã hội. Davis (1973) cho rằng CSR là sự quan tâm và phản ứng của doanh nghiệp đối với các vấn đề vượt ra ngoài việc thỏa mãn những yêu cầu pháp lý, kinh tế, công nghệ.
Theo Carroll (1979), CSR có thể được định nghĩa là đối xử với các đối tượng hữu quan của doanh nghiệp một cách có đạo đức hoặc theo một cách có trách nhiệm. Carroll (1991) cũng khẳng định thêm CSR là sự mong đợi của xã hội về kinh tế, luật pháp, đạo đức và lòng từ thiện của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Những người theo quan điểm này nghiêng về quan điểm cho rằng các doanh nghiệp với tư cách là chủ thể kinh doanh tại thị trường nào đó, họ đã sử dụng nguồn lực của xã hội, khai thác nguồn lực tự nhiên và trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh, họ gây ra không ít tổn hại đối với môi trường tự nhiên và xã hội. Vì lẽ đó, ngoài việc đóng thuế, doanh nghiệp còn phải có trách nhiệm xã hội với môi trường, cộng đồng và người lao động.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Mặc dù có nhiều định nghĩa và quan điểm khác nhau, chúng ta có thể hiểu ngắn gọn nhất như sau: CSR là mô tả nghĩa vụ một công ty hành động theo cách phục vụ cả lợi ích kinh doanh và lợi ích chung của xã hội. Theo European Commission (2001), Aguilera & ctg (2007), Brammer & ctg (2007), Ligeti & Oravecz (2009) và Smith (2007), CSR được chia theo hai khía cạnh: (1) Trách nhiệm xã hội bên trong, chỉ những hành động của doanh nghiệp nhằm tác động lên nhân viên (đối tượng hữu quan bên trong cơ bản). Các hoạt động trách nhiệm xã hội liên quan đến nhân viên có thể được chia thành bốn loại, gọi là “Các lớp giá trị” - tạo ra giá trị cho các đối tượng hữu quan, thỏa mãn các kỳ vọng khác nhau của họ (Longo & ctg, 2005). “Các lớp giá trị” của nhân viên liên quan đến cải tiến các kỹ năng của người lao động, công bằng xã hội, an toàn công việc, sự thỏa mãn của người lao động và sự tuyệt vời của công việc; (2) Trách nhiệm xã hội bên ngoài, là những hành động của doanh nghiệp để tạo ảnh hưởng tốt lên và có thể quan sát được bởi các đối tượng hữu quan bên ngoài (cộng đồng địa phương, nhà cung cấp, khách hàng).
Các minh họa cho trách nhiệm xã hội bên ngoài có thể kể như tôn trọng nhân quyền, không gây ô nhiễm, tiết kiệm nguồn tài nguyên, … Ngoài ra theo giáo sư Archie Carroll công bố vào năm (1991) và trở thành công cụ được sử dụng rộng rãi. Ông Carroll đã khẳng định rằng CSR “chỉ có thể trở thành hiện thực nếu các nhà quản lý trở nên đạo đức hơn thay vì họ thiếu đạo đức hoặc vô đạo đức.” Hãy xem xét những điều ông muốn đề cập mô hình kim tự tháp: Kim tự tháp mô tả một trật tự các trách nhiệm cùng nhau tạo nên CSR. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Thứ nhất là trách nhiệm kinh tế: hình thành nền tảng của kim tự tháp chỉ đơn giản là tạo ra được lợi nhuận. Trách nhiệm của các bạn là giữ chi phí ở mức tối thiểu, tối đa hóa được doanh thu, tập trung đầu tư kinh doanh và chi trả cổ tức cho chủ sở hữu và các cổ đông.
Ngoài ra trách nhiệm về mặt kinh tế cũng có nghĩa là bạn tạo ra công ăn việc làm cho nhân viên, đóng góp những sản phẩm, dịch vụ tốt và hữu ích hơn, không làm gây hại cho xã hội. Tất cả nhận viên trong doanh nghiệp từ vị trí quản lý lãnh đạo đến nhân viên cấp dưới đều giúp doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm này bằng cách giải quyết công việc thông minh vượt trội và hiệu quả hơn luôn luôn chú trọng đến thời gian để gia tăng hiệu suất làm việc, giảm được lãng phí chi phí nhân sự… Thứ hai là trách nhiệm pháp lý: đây là yếu tố yêu cầu tối thiểu của doanh nghiệp: phải tuân thủ luật lệ của xã hội, ở nhiều quốc gia, điều này có nghĩa là trung thực về những sản phẩm hoặc dịch vụ bạn bán, giữ an toàn và đảm bảo thực hiện đầy đủ đúng kịp thời theo luật qui định cho nhân viên và cho khách hàng, tham gia đóng thuế đầy đủ cho cơ quan nhà nước, tuân thủ và thực hiện tốt vấn đề bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên…ít nhất, đó chính là bảo vệ tổ chức tránh khỏi việc bị phạt hoặc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 truy tố ảnh hưởng đến lợi nhuận và danh tiếng của công ty thậm chí dẫn đến phá sản. Là quản lý lãnh đạo, bạn có thể thực hiện trách nhiệm này bằng cách đảm bảo các nhân viên trong công ty được trang bị đầy đủ thiết bị an toàn lao động, được đào tạo để đáp ứng những quy tắc về sức khỏe và an toàn. Họ có thể bảo vệ công ty và khách hàng bằng cách lưu trữ, cập nhật, bảo mật dữ liệu chính xác… Thứ ba là trách nhiệm đạo đức: nghĩa là các doanh nghiệp phải hoạt động kinh doanh một cách minh bạch, hợp lý và linh dộng dù luật pháp không yêu cầu.
Để tham gia vào trách nhiệm này, bạn sẽ cần đến quan điểm “đạo đức” mà Carroll đề cập đến ở đây là: chẳng hạn ở một quy mô doanh nghiệp nhỏ hơn, hỗ trợ làm việc linh hoạt cho các thành viên trong nhóm để họ có thể rèn luyện trách nhiệm chăm sóc lẫn nhau đối với công việc của mình. Trách nhiệm cuối cùng: là trách nhiệm từ thiện, nghĩa là doanh nghiệp sử dụng nguồn lực có sẵn của mình trong các lĩnh vực như giáo dục, văn hóa nghệ thuật, cộng đồng v.v…để thực hiện các hoạt động xã hội cần thiết, và đây cũng là trách nhiệm cao nhất, vượt xa mọi kỳ vọng. Trách nhiệm này đề cập đến việc mỗi thành viên trong công ty đều có thể trở thành một “công dân tốt”, tích cực cải thiện thế giới xung quanh, ví dụ: Cho phép các thành viên trong công ty tham gia chương trình tình nguyện trong thời gian làm việc, tài trợ cho sáng kiến cộng đồng, cung cấp, tư vấn kiến thức chuyên môn cho những tổ chức phi lợi nhuận – hoặc trong trường hợp của Unilever là giải quyết tình trạng đói nghèo toàn cầu… Trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm từ thiện là hai trách nhiệm thể hiện ý thức tự nguyện hơn so với các trách nhiệm khác của doanh nghiệp.