mở đầu, chương 2 sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về các khái niệm liên quan (các khái niệm trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, sự an tâm trong công việc, niềm tin tổ chức cũng như mối quan hệ giữa các yếu tố này với nhau), trên cơ sở xác lập mối quan hệ các yếu tố và kế thừa nghiên cứu liên quan trực tiếp, gián tiếp trong và ngoài nước, chương 2 đã đưa ra mô hình nghiên cứu và biện luận các giả thuyết nghiên cứu được đưa ra từ đó làm cơ sở cho việc thiết kế nghiên cứu để có thể sử dụng các công cụ, kỹ thuật phân tích ở chương 3 và chương 4.1 Các khái niệm nghiên cứu liên quan 2.1 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Thông qua các khái niệm về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, xem xét một số khái niệm của các tác giả sau: Khái niệm trách nhiệm xã hội được Browen đưa ra vào năm 1953 trong quyển sách “trách nhiệm xã hội doanh nghiệp”. Sau tác giả này thì cũng có rất nhiều tác giả khác đưa ra khái niệm về trách nhiệm xã hội như Davis (1960) và Guie (1963), ở điểm chung trong giai đoạn này là trách nhiệm xã hội thường được gắn với khái niệm về pháp luật kinh tế. Các khái niệm nghiên cứu này chính là nền tảng cho những khái niệm sau này của các tác giả, chính vì vậy việc đo lường cũng như thể hiện chi tiết trong khái niệm còn hạn chế. Tiếp sau thời gian này vào khoảng đầu thập niên 70, Friedman (1970) lại đưa ra khái niệm trách nhiệm xã hội mà được phần lớn cộng đồng nghiên cứu chấp nhận và kế thừa, Friedman cho rằng các nhà quản lý doanh nghiệp không chỉ có trách nhiệm với cổ đông mà phải gia tăng sự giàu có cũng như những tài sản cho cổ đông của họ, nghĩa là bên cạnh việc tạo ra giá trị cho tổ chức cần phải đảm bảo tuân thủ những quy tắc của xã hội về chuẩn mực mà một doanh nghiệp đáp ứng, khái niệm của Friedman đã cho LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 thấy được góc độ tiếp cận về trách nhiệm xã hội mới hơn so với các nhà nghiên cứu trước đó.
Đến cuối thập niên 70 của thế kỷ 20, Carroll (1979) định nghĩa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm kỳ vọng kinh tế, pháp lý, đạo đức và tùy ý mà xã hội mong muốn các tổ chức thực hiện tại một thời điểm nhất định nào đó, điều này có nghĩa rằng trách nhiệm xã hội bao gồm nhiều việc làm xoay quanh 3 yếu tố kinh tế, pháp lý và đạo đức, đảm bảo sự phát triển hài hòa của 3 yếu tố, như vậy thì trách nhiệm xã hội sẽ được thực hiện đầy đủ đối với doanh nghiệp. Với cách tiếp cận này, Carroll dường như đã xem xét trách nhiệm xã hội với một góc độ đầy đủ chi tiết hơn các tác giả trước đây. Không dừng lại ở đây, cũng cùng thời điểm đưa ra cách tiếp cận mới về trách nhiệm xã hội, Caroll (1979) tiếp tục định nghĩa về trách nhiệm xã hội được hiểu là sự mong đợi của của xã hội đối với doanh nghiệp về kinh tế, pháp luật, đạo đức và từ thiện đối với các tổ chức tại một thời điểm cụ thể. Sau đó vào năm 1991 thì ông cũng đưa ra khái niệm trách nhiệm xã hội của mình theo 4 khía cạnh để trách nhiệm xã hội được hoàn thiện hơn, bao gồm các khía cạnh như: Kinh tế, pháp luật, đạo đức và từ thiện.
Khái niệm trách nhiệm xã hội của Caroll được sử dụng trong thời gian dài và được đông đảo cộng đồng nghiên cứu chấp nhận. Trách nhiệm kinh tế là trách nhiệm liên quan đến các nhà đầu tư và khách hàng. Nó đề cập đến việc tạo ra lợi nhuận của tổ chức, tối đa hóa lợi nhuận, cạnh tranh, hiệu quả và tăng trưởng. Đây là điều kiện tiên quyết bởi doanh nghiệp được thành lập trước hết từ động cơ tìm kiếm lợi nhuận.
Hơn thế, doanh nghiệp là các tế bào kinh tế căn bản của xã hội. Vì vậy, chức năng kinh doanh luôn phải được đặt lên hàng đầu. Các trách nhiệm còn lại đều phải dựa trên ý thức trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp. Trách nhiệm pháp lý là trách nhiệm đối với chính quyền/ luật pháp.
Nó đề cập đến các quy tắc và quy định áp dụng trong suốt quá trình hoạt động của tổ chức, trong khuôn khổ của pháp luật, chính là sự cam kết của doanh nghiệp với xã hội. Các doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu kinh tế trong khuôn khổ pháp luật một cách công bằng và đáp ứng được các chuẩn mực và giá trị cơ bản mà xã LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 hội mong đợi. Trách nhiệm kinh tế và pháp lý là hai bộ phận cơ bản, không thể thiếu của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Trách nhiệm đạo đức là trách nhiệm đối với xã hội.
Nó chỉ đạo tổ chức phải thực hiện theo các quy tắc và các giá trị của xã hội được chấp nhận nhưng chưa được đưa vào văn bản luật. Doanh nghiệp tuân thủ pháp luật chỉ được coi là sự đáp ứng những đòi hỏi, chuẩn mực tối thiểu mà xã hội đặt ra. Doanh nghiệp còn cần phải thực hiện cả các cam kết ngoài luật. Trách nhiệm đạo đức là tự nguyện, nhưng lại chính là trung tâm của trách nhiệm xã hội.
Trách nhiệm từ thiện là trách nhiệm đối với cộng đồng, hay còn gọi là đóng góp cộng đồng. Nó bao gồm những hành vi của doanh nghiệp vượt ra ngoài sự trông đợi của xã hội, như quyên góp ủng hộ người khó khăn, tài trợ học bổng, đóng góp cho các dự án cộng đồng. Điểm giống nhau giữa trách nhiệm từ thiện và đạo đức là doanh nghiệp hoàn toàn tự nguyện. Nếu doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội đến mức độ này được coi là đáp ứng đủ các chuẩn mực mà xã hội trông đợi.
Có thể nói đến năm 1991, Carroll dường như đã đưa ra được nền móng cho các quan điểm, tiếp cận về trách nhiệm xã hội một cách tương đối đầy đủ. Sau đó vào khoảng đầu thế kỷ 21, ở khía cạnh quan sát khác, Mohr và cộng sự (2001) cho rằng trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là việc mà một doanh nghiệp cam kết để giảm thiểu hoặc loại bỏ bất kỳ tác động có hại nào và tối đa hoá tác động lâu dài của xã hội, điều này có nghĩa là doanh nghiệp sẽ nỗ lực các hoạt động nhằm hướng tới việc cắt giảm sự nguy hại hay tiêu cực cho xã hội về lâu dài. Với cách định nghĩa này thì Mohr xem xét quan điểm về trách nhiệm xã hội chỉ ở việc không gây nguy hại cho cộng đồng và xã hội, điều này còn chưa đầy đủ trong việc thỏa mãn các đối tác hữu quan, bổ sung thêm cho quan đểm này, Porter và Kramer (2002) mô tả trách nhiệm xã hội là một hình thức hoạt động từ thiện của công ty, có thể được kết hợp với lợi ích kinh tế để cung cấp một lợi thế cạnh tranh, quan điểm của Porter và Kramer cho rằng ngoài thực hiện cắt giảm việc làm giảm nguy hại cho xã hội thì việc thực hiện từ thiện là một phần khá quan trọng khi nhìn nhận về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, cũng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 cùng thời điểm góc nhìn khái quái hơn. Ogrizek (2002) nói rằng phạm vi trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là rộng lớn hơn nhiều so với các hoạt động từ thiện, nó bao gồm cả sự tham gia đóng góp cộng đồng, hệ thống quản lý môi trường và chính sách nguồn nhân lực, điều này đã lắp đầy những khiếm khuyết về cách nhìn nhận trách nhiệm xã hội của các tác giả trước đây.
Với quan điểm và cách nhìn tổng quát hơn các tác giả cận thời điểm trước đó, Deetz (2003) cho biết hành động trách nhiệm xã hội như là đáp ứng với nhu cầu của cộng đồng, cách định nghĩa này có vẻ tăng phạm vi về khái niệm trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. Cùng với quan điểm tiếp cận về khái niệm này, Hội đồng doanh nghiệp thế giới vì sự phát triển bền vững (WBCSD) (2004) định nghĩa trách nhiệm xã hội là sự cam kết của một doanh nghiệp để góp phần phát triển kinh tế bền vững, làm việc với nhân viên, gia đình, cộng đồng địa phương và xã hội để nâng cao chất lượng cuộc sống của họ. Cách định nghĩa này mở rộng phạm vi các hoạt động về trách nhiệm xã hội hơn, tiếp nối quan điểm của trường phái tiếp cận này, Kotler và Lee (2005) cung cấp một định nghĩa cụ thể hơn về trách nhiệm xã hội là điều hành một doanh nghiệp đáp ứng một cách vượt quá mong đợi của pháp luật, thương mại, công chúng về đạo đức và xã hội của doanh nghiệp. Quan điểm tiếp cận Kotler và Lee có vẻ nhìn nhận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cao hơn so với các tác giả trước đây, với quan điểm này một doanh nghiệp ngoài đáp ứng được những mong đợi của xã hội cần phải có được sự đáp ứng vượt khỏi mong đợi của các đối tác xung quanh.
Cũng giống như trường phái của Hội đồng doanh nghiệp thế giới, Ủy ban Châu Âu (2006) đã định nghĩa về trách nhiệm xã hội là việc các công ty tích hợp vấn đề xã hội và môi trường của họ trong hoạt động kinh doanh và trong sự tương tác của chúng với các bên liên quan trên cơ sở tự nguyện. Định nghĩa được nêu trong chương một của Ủy ban Châu Âu kết hợp cả hai vấn đề xã hội và môi trường trong khi xem xét các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và các bên liên quan, cách tiếp cận khái niệm này LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 rất gần gũi với những khái niệm về trách nhiệm xã hội mà hiện nay được sử dụng phổ biến hơn. Trong thực tế, trách nhiệm xã hội vẫn còn đầy thách thức và các nhà nghiên cứu tiếp tục định nghĩa và đo lường chúng. Okae (2009) cho rằng Hiệp ước Toàn cầu của Liên Hợp Quốc đóng vai trò quan trọng trong việc tạo áp lực các công ty, để sẵn sàng nắm lấy trách nhiệm xã hội làm tiêu chuẩn công khai cho hoạt động của họ, tiếp sau đó Henri và Ane (2012) cho thấy trách nhiệm xã hội bao gồm các yếu tố như trách nhiệm cộng đồng, môi trường, nhân quyền và cách ứng xử với nhân viên, tuy cách tiếp cận này cũng không quá mới, nhưng nó có kế thừa được những tiếp cận xúc tích về trách nhiệm xã hội trước đây.