Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương 4: Các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao thu nhập từ hoạt động tín dụng đối với hộ nông dân tại huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỘ NÔNG DÂN VAY VỐN TÍN DỤNG NÔNG THÔN 1. Lý luận về vốn tín dụng nông thôn 1. Bản chất và chức năng của tín dụng 1.
Một số khái niệm về tín dụng Quan điểm truyền thống về tín dụng nông thôn cho rằng cơ chế giá cả hay lãi suất vẫn có chức năng tích cực ở thị trường tín dụng. Lãi suất thấp sẽ khuyến khích nông dân vay mượn, tăng cường áp dụng kỹ thuật mới để đạt được sản lượng và thu nhập cao. Lãi suất cao sẽ ngăn cản nông dân vay mượn. Trên cơ sở lập luận đó, quan điểm truyền thống đề xuất sự can thiệp mạnh của chính phủ ở thị trường tín dụng bằng sự duy trì lãi suất thấp và trợ cấp tín dụng cho nông hộ (26).
Quan điểm truyền thống giả định vốn tín dụng là một đầu vào hay yếu tố sản xuất quan trọng, bởi vì thiếu vốn là trở ngại chính đối với tăng trưởng kinh tế khu vực ở nông thôn (Wai, 22).Từ giả định này có tác giả suy luận rằng nhu cầu tín dụng sẽ phụ thuộc vào các đặc điểm sản xuất của nông hộ vì vốn tín dụng là một bộ phận của yếu tố vốn không được kết hợp với các yếu tố sản xuất khác trong quá trình SX (Adam, 24). Tuy nhiên, thực tiễn can thiệp của Chính phủ vào thị trường tín dụng ở các nước đang phát triển đã không đạt được những kết quả như kỳ vọng, do vậy quan điểm truyền thống về tín nông thôn đã bị thách thức cả về mặt logic lẫn thực tiễn. Nhu cầu của vốn tín dụng của hộ nông dân xuất hiện do tương quan giữa thu nhập (Y) và nguồn lực (R) với chỉ tiêu tiền tệ (E) được biểu thị qua hàm cầu tín dung: B= f(Y,R,E). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 Nhu cầu về vốn tín dụng tăng khi chỉ tiêu tăng hay thu nhập giảm hoặc nguồn lực thấp, khi các điều kiện khác không đổi.
Thu nhập của hộ nông dân chủ yếu từ hoạt động sản xuất kinh doanh và từ tiền công, tiền lương thu được từ hoạt động ngoài nuôi gia cầm. Nguồn lực có thể dưới hình thức tài sản sản xuất, bất động sản và tài sản khác (21). Chỉ tiêu có thể dưới hình thức chi phí đầu tư hoặc tiêu dùng. Tín dụng thương mại (Trade Credit) là một hình thức tín dụng trong đó người bán (nhà cung cấp) đồng ý cho người mua trả chậm giá trị hàng hóa đã mua trong một khoảng thời gian nhất định.
Tín dụng thương mại là hình thức tín dụng phổ biến trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh ở các nước đang phát triển cũng như các quốc gia phát triển. Vai trò của tín dụng thương mại từ lâu đã là mối quan tâm của các nhà nghiên cứu lý luận và thực tiễn. Nhu cầu vốn đầu tư phát triển kinh tế hộ nông dân Nhu cầu đầu tư bao gồn đầu tư mới và đầu tư vào sản xuất hiện tại của nông dân. Đầu tư mới của nông dân thường dưới hình thức mở rộng sản xuất của nông dân hay thuê thêm đất đai, máy móc hoặc áp dụng kỹ thuật mới.
Đầu tư vào sản xuất hiện tại bao gồm các yếu tố đầu vào ngắn hạn như: con giống, phân bón, nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào dài hạn như máy móc. Cơ cấu sản xuất của hộ nông dân cũng ảnh hưởng tới nhu cầu vốn tín dụng khách nhau. Đầu tư dài hạn vào sản xuất mới và tài sản cố định đòi hỏi vốn vay nhiều vào dài hạn. Vốn vay nhỏ và ngắn hạn chỉ thích hợp với các yếu tố đầu vào ngắn hạn (Ray, 25).
Thu nhập, tài sản sản xuất, bất động sản và các tài sản khác ngoài nông hộ, chỉ đầu tư vào tiêu dùng và đặc tính sản xuất có thể ảnh hưởng tới nhu cầu tín dụng và do đó ảnh hưởng tới quyết định vay vốn chính thức của nông dân. Tuy nhiên, có nhu cầu tín dụng không giải thích đầy đủ các yếu tố quyết định sự tiếp cận tín dụng của nông dân. Donald (22) đã lập luận rặng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 8 địa vị chính trị xã hội của nông dân sẽ ảnh hưởng tới việc vay vốn chính thức của họ, vì có mối quan hệ gần gũi với các nhân viên của ngân hàng, có kiến thức và thông tinh về chương trình tín dụng nên họ dễ dàng xin vay vốn tín dụng chính thức. Theo lý thuyết về kinh tế hộ sản xuất của Kooreman (23), nhu cầu tín dụng chính thức của hộ luôn bị hạn chế vì giới hạn của họ về kiến thức, kỹ năng chuyên môn, của cải và thời gian.
Trình độ văn hóa của các hộ nông dân có ảnh hưởng tới sự tiếp cận tín dụng chính thức của họ, vì có được tín dụng từ khu vực chính thức, các hộ nông dân phải trải qua các thủ tục về giấy tờ đòi hỏi trình độ văn hóa nhất định. Hơn nữa, các hộ nông dân có văn hóa cao sẽ có kế hoạch đầu tư tốt hơn và có nhiều khả năng xin vay vốn tín dụng chính thức hơn. Tài sản của các hộ nông dân phản ánh khả năng tài chính của họ và những hộ nông dân giàu hơn sẽ có ít nhu cầu vay vốn hơn.Weiss (21) và Floro (21) với giả định thị trường tín dụng là không hoàn hảo lập luận rằng: phân phối tín dụng theo cơ chế phi giá cả không chỉ là kết quả của sự can thiệp của chính phủ, mà còn từ hành vi của người cho vay và người đi vay trong môi trường không cân xứng thông tin ở thị trường tín dụng. Nhìn chung, lãi suất ở thị trường chính thức thường thấp hơn mức cân bằng của thị trường (Adam, 24).
Khi nhu cầu tín dụng vượt cung tín dụng, những người cho vay chính thức kỳ vọng thu được lợi nhuận cao hơn nhờ gia tăng lãi suất. Tuy nhiên, vì thông tin không cân xứng, lãi suất cao hơn sẽ dẫn đến sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức (27). Trước vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức, những người cho vay chính thức có thể giới hạn tín dụng theo cơ chế phi lãi suất. Trước khi chấp thuận một đơn xin vay, họ thường đánh giá mức rủi ro của người đi vay, dựa vào những đặc tính có thể quan sát được của người vay bao gồm diện tích đất đai, tình trạng nhà cửa, nghề nghiệp chính của chủ hộ, trình độ văn hóa và danh tiếng của nông Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.
Trên cơ sở những thôn tin này, người cho vay sẽ quyết định kỳ hạn và điều kiện trong hợp đồng cho vay. Lý thuyết về thu nhập theo chu kỳ sống cho rằng: các hộ nông dân trai trẻ có nhiều con nhỏ có thể tiêu dùng nhiều hơn thu nhập, nên họ cần vay mượn để tiêu dùng cho gia đình của họ. Kết hợp quan điểm truyền thống về tín dụng nông thôn. Lý luận về nhu cầu tín dụng của nông thôn, lý thuyết kinh tế hộ sản xuất và lý thuyết thu nhập sản xuất theo chu kỳ sống cho thấy: thu nhập, tài sản sản xuất, bất động sản và tài sản khác của nông hộ; đầu tư, chi tiêu và đặc tính sản xuất của nông trại và những đặc tính quan trọng của chủ hộ như tuổi, trình độ văn hóa, kỹ năng chuyên môn, địa vị chính trị xã hội.
có ảnh hưởng tới sự tiếp cận vốn tín dụng chính thức và do đó tới nguồn tín dụng của nông trại. Bản chất của tín dụng Tín dụng tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất khác nhau, nhưng ở bất cứ phương thức nào tín dụng cũng biểu hiện ra bên ngoài như là sự vay mượn tạm thời một vật hoặc một số vốn tiền tệ, nhờ vậy mà người ta có thể sử dụng được giá trị của hàng hoá hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua trao đổi. Để vạch rõ bản chất của tín dụng cần thiết phải nghiên cứu liên hệ kinh tế trong quá trình hoạt động của tín dụng và mối quan hệ của nó với quá trình tái sản xuất. * Sự vận động của tín dụng Tín dụng là một quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay, giữa họ có mối quan hệ với nhau thông qua vận động giá trị vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hoặc hàng hoá.
Quá trình vận động đó được thể hiện qua các giai đoạn sau: + Thứ nhất: Phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay. Ở giai đoạn này, vốn tiền tệ hoặc giá trị vật tư hàng hoá được chuyển từ người cho vay sang người đi vay. Như vậy khi cho vay, giá trị vốn tín dụng được chuyển Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 10 sang người đi vay, đây là một đặc điểm cơ bản khác với việc mua bán hàng hoá thôn thường. Các Mác viết “Trong việc cho vay, chỉ có một bên nhận được giá trị, vì cũng chỉ có một bên nhượng đi giá trị mà thôi”.
+ Thứ hai: Sử dụng vốn tín dụng trong quá trình tái sản xuất. Sau khi nhận được giá trị vốn tín dụng, người đi vay được quyền sử dụng giá trị đó để thoả mãn một mục đích nhất định. Tuy nhiên người đi vay không có quyền sở hữu về giá trị đó, mà chỉ tạm thời sử dụng trong một thời gian nhất định. + Thứ ba: Sự hoàn trả của tín dụng.
Đây là giai đoạn kết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng. Sau khi vốn tín dụng đã hoàn thành một chu kỳ sản xuất để trở về hình thái tiền tệ, thì người đi vay hoàn trả lại cho người cho vay. Như vậy sự hoàn trả của tín dụng là đặc trưng thuộc về bản chất vận động của tín dụng, là dấu ấn phân biệt phạm trù tín dụng với các phạm trù kinh tế khác. * Hoạt động của tín dụng trong phạm vi vĩ mô Sau năm 1930 lý thuyết cho vay đã được thừa nhận và sử dụng để phân tích hoạt động của tín dụng và lãi suất trong nền kinh tế thị trường.
Quỹ cho vay được hình thành và vận động giữa các chủ thể tham gia quá trình tái sản xuất, bao gồm các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất, lưu thông; các tổ chức tài chính - tín dụng; Nhà nước và công dân. Chức năng của tín dụng a.