Chương 1 giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu như trình bày lý do vì sao lựa chọn chủ đề nghiên cứu, giới thiệu mục tiêu, đối tượng, phạm vi và kết cấu của nghiên cứu. Chương 2 trình bày tổng quan các ý tưởng chính về cơ sở lý thuyết cho mối quan hệ giữa thiên tai và sức khỏe con người, đồng thời lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm cùng chủ đề đã được thực hiện ở trong và ngoài nước và đề xuất khung lý thuyết cho phân tích. Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong phân tích và mô tả dữ liệu mà nghiên cứu sử dụng. Chương 4 trình bày kết quả tác động của thiên tai đến tình trạng sức khỏe của người dân và trẻ em ở khu vực nông thôn Việt Nam.
Chương 5 kết luận và đưa ra các gợi ý chính sách. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2. Lược khảo lý thuyết.
Các khái niệm liên quan 2. Thiên tai Theo Luật Phòng, chống thiên tai Việt Nam năm 2013, “Thiên tai là hiện tượng tự nhiên bất thường có thể gây thiệt hại về người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và các hoạt động kinh tế - xã hội, bao gồm: bão, áp thấp nhiệt đới, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần và các loại thiên tai khác” Một định nghĩa tương tự về thiên tai cũng được đưa ra bởi Trung tâm phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai như sau: “Thiên tai là quá trình hay hiện tượng tự nhiên có thể gây chết người, thương tích hoặc các tác động khác tới sức khỏe, gây thiệt hại về tài sản, sinh kế và các dịch vụ, làm gián đoạn các hoạt động kinh tế - xã hội, hoặc gây thiệt hại về môi trường”. Các loại hình thiên tai gồm: Lũ, lũ quét, ngập lụt, bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn, lốc, sét, sạt lở đất do mưa lũ, động đất, sóng thần, nước dâng, hạn hán, nắng nóng, rét hại, mưa đá, sương muối, sụt lún đất do mưa lũ hoặc xâm nhập mặn (DMC, 2018). Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chỉ đề cập đến ba loại thiên tai phổ biến ở Việt Nam là bão, lũ lụt và hạn hán.
Và được định nghĩa như sau: Theo DMC (2018), “Bão là một xoáy thuận nhiệt đới có sức gió mạnh nhất từ cấp 8 trở lên và có thể có gió giật. Bão có sức gió mạnh nhất từ cấp 10 đến cấp 11 gọi là bão mạnh, từ cấp 12 đến cấp 15 gọi là bão rất mạnh, từ cấp 16 trở lên gọi là siêu bão”. Lũ được định nghĩa là “hiện tượng mực nước sông dâng cao trong khoảng thời gian nhất định, sau đó xuống”. Và hạn hán được định nghĩa là “hiện tượng thiếu nước nghiêm trọng xảy ra trong thời gian dài do không có mưa và cạn kiệt nguồn nước”.
Định nghĩa của những loại thiên tai khác cũng có thể tìm thấy trên Website của Trung tâm phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Một định nghĩa khác về thiên tai được đưa ra bởi Trung tâm nghiên cứu dịch tễ học về thiên tai như sau: Thiên tai là một sự kiện bất ngờ, phá hủy và gây ra những thiệt hại hoặc tổn thương lớn cho con người, phải cần đến sự trợ giúp ở cấp quốc gia hoặc quốc tế. Có 3 tiêu chí để xác định một sự kiện là thiên tai: (1) 10 người trở lên được báo cáo là bị thiệt mạng; (2) 100 người trở lên được báo cáo là bị ảnh hưởng; (3) Cần sự trợ giúp của quốc tế hoặc tình trạng khẩn cấp được công bố (CRED, 2013). Có nhiều định nghĩa về thiên tai được đưa ra, tuy nhiên nghiên cứu này chỉ sử dụng một định nghĩa thiên tai duy nhất của Trung tâm phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai.
Các chỉ số phát triển ở trẻ em WHO (2008) đã đưa ra diễn giải chi tiết cho các chỉ số phát triển ở trẻ em như sau: Chiều cao theo độ tuổi (Lengtht/Height for age z-score) là chỉ số phản ánh sự tăng trưởng về chiều dài hoặc chiều cao của trẻ em theo từng độ tuổi. Chỉ số này là cơ sở để xác định một trẻ em có bị còi cọc (dưới chiều cao trung bình) do suy dinh dưỡng kéo dài hoặc do bệnh tật thường xuyên hay không. Đồng thời, chỉ số này cũng có thể xác định được những trẻ em có chiều cao cao hơn so với độ tuổi, nhưng chiều cao hiếm khi là vấn đề trừ khi nó quá mức và phản ánh các rối loạn nội tiết khác thường. Cân nặng theo độ tuổi (Weight for age z-score) là chỉ số phản ánh trọng lượng cơ thể so với độ tuổi của trẻ em.
Chỉ số này được sử dụng để đánh giá xem trẻ em có bị thiếu cân hoặc thiếu cân nghiêm trọng hay không, nhưng không được sử dụng để phân loại trẻ em thừa cân hoặc béo phì. Bởi vì trọng lượng tương đối dễ đo, chỉ số này thường được sử dụng nhưng sẽ không chính xác trong những tình huống mà tuổi của trẻ không thể xác định được, chẳng hạn trong tình huống của người tị nạn. Điều quan trọng cần lưu ý là trẻ có thể bị thiếu cân do chiều dài/chiều cao dưới mức trung bình (thấp còi) hoặc gầy hoặc cả hai. Cân nặng theo chiều cao (Wieght for height z-score) là chỉ số phản ánh trọng lượng cơ thể theo chiều dài hoặc chiều cao.
Chỉ số này đặc biệt hữu ích trong các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 tình huống mà tuổi của trẻ không thể xác định chính xác như tình huống của người tị nạn. Biểu đồ trọng lượng theo chiều dài/chiều cao giúp xác định những trẻ có chỉ số trọng lượng theo chiều cao thấp, là những trẻ thường bị gầy gò ốm yếu. Tình trạng gầy gò ốm yếu thường do một căn bệnh hoặc tình trạng thiếu hụt lương thực dẫn đến sự sụt cân nghiêm trọng, suy dinh dưỡng mãn tính hoặc bệnh tật cũng có thể gây ra tình trạng này. Đồng thời, các biểu đồ này cũng giúp xác định những trẻ em có chỉ số trọng lượng theo chiều dài/chiều cao cao, là những trẻ có nguy cơ bị thừa cân hoặc béo phì.
Trong nghiên cứu này, các chỉ số phát triển ở trẻ em sẽ được đo lường bằng công thức do De Onis et al. Khung lý thuyết Biến đổi khí hậu gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho con người như gia tăng tần suất xuất hiện và mức độ tác động của các loại thiên tai như bão, lũ lụt và hạn hán gây thiệt hại lớn về người và tài sản, phá hủy mùa màng, ảnh hưởng đến mức thu nhập, chi tiêu, sinh kế, giáo dục và các vấn đề xã hội khác, đặc biệt là tác động tiêu cực đến sức khỏe của người dân. Mối quan hệ giữa thiên tai và sức khỏe đã được nhiều học giả nghiên cứu trên thế giới quan tâm, bàn luận trên lý thuyết cũng như kiểm chứng bằng các nghiên cứu thực nghiệm. Khung lý thuyết để phân tích mối quan hệ này được Banwell et al.
(2018) xây dựng như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Trực tiếp Sức khỏe Hệ sinh thái - Tử vong. - Sự thay đổi của đất, - Bị thương và bệnh Những hiểm họa từ nước và không khí. biến đổi khí hậu - Cạn kệt tài nguyên. - Thay đổi sử dụng - Thủy văn.
- Bệnh tim mạch. Vd: Hạn hán, - Thay đổi đa dạng - Suy dinh dưỡng. - Thay đổi các dịch vụ - Sinh học. Vd: Sốt xuất hệ sinh thái khác.
- Bệnh truyền nhiễm. huyết, Bệnh tả. Gián tiếp - Sức khỏe hiện tại - Khí tượng học. Vd: - Con người.
Con người bị xấu đi (bệnh mãn Bão, Nhiệt độ cực đoan. - Hệ sinh thái. - Hệ thống y tế cơ sở và công cộng. - Phúc lợi tinh thần - Các yếu tố liên quan - Ngộ độc.
đến sức khỏe ( Nước, - Bệnh về đường hô nông nghiệp. - Hệ thống xã hội (sinh hấp. kế, hệ thống kinh tế và sự bất bình đẳng). Khung lý thuyết cho mối quan hệ giữa thiên tai và sức khỏe Nguồn: Banwell et al.
Theo Skoufias and Vinha (2012), thiên tai có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người bao gồm tử vong, chấn thương, bệnh tật, ảnh hưởng sức khỏe tâm thần và các vấn đề sức khỏe khác, nguyên nhân chủ yếu là do những thay đổi về khí hậu và thời tiết như sóng nhiệt và hạn hán, thời tiết lạnh và lượng mưa. Những thay đổi bất thường này của thời tiết có thể làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm hoặc tăng nguy cơ gây hại cho sức khỏe do tiếp xúc với môi trường có nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp. Tỷ lệ mắc bệnh và phạm vi lây lan của một mầm bệnh hay sinh vật gây bệnh cụ thể được xác định bởi các mức độ nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm cụ thể (Patz et al. Nhiều khu vực trước đây không phải là môi trường để các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 sinh vật gây bệnh có thể tồn tại, nhưng do sự thay đổi về lượng mưa, nhiệt độ hoặc độ ẩm làm cho điều kiện thời tiết của các khu vực này trở nên phù hợp để các sinh vật gây bệnh có thể sinh sản và phát triển.
Cùng quan điển này, Chase and Knight (2003) cho rằng điều kiện thời tiết nắng nóng là môi trường thuật lợi cho các loại sâu bọ tồn tại, sinh sản và phát triển, đặc biệt là các sinh vật gây bệnh, tăng khả năng xảy ra dịch bệnh trên diện rộng (Kovats et al. Hạn hán và lũ lụt có thể liên quan trực tiếp đến tỷ lệ mắc một số bệnh đường ruột do tình trạng xuống cấp nước uống, không đảm bảo được an toàn vệ sinh (World Bank 2010b, CDC, 2010). Bên cạnh đó, các thảm họa thiên nhiên còn tác động gián tiếp đến tình trạng sức khoẻ người dân thông qua những thay đổi trong thu nhập hoặc sản xuất nông nghiệp, vì năng suất nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào nhiệt độ và lượng mưa.