chương 1 như sau: phần đầu tiên tóm tắt, xem xét các định nghĩa khác nhau về thể chế công đã được đưa ra từ các nhà nghiên cứu trước trong lĩnh vực này. Trong phần thứ hai sẽ thảo luận về những nguyên nhân của sự khác biệt về chất lượng của thể chế. Trong phần thứ ba sẽ xem xét các liên kết giữa lý thuyết chất lượng thể chế công và hiệu quả kinh tế như đã được thiết lập trong các nghiên cứu. Cuối cùng, trong phần thứ tư sẽ làm nổi bật những nghiên cứu thực nghiệm về thể chế công, các phương pháp khác nhau của thể chế công được sử dụng trong các nghiên cứu khác nhau và các vấn đề gặp phải trong nghiên cứu thực nghiệm tác động của thể chế công đến các biện pháp quản lý hoạt động kinh tế.
Định nghĩa thể chế công Việc định nghĩa những yếu tố cấu thành thể chế công đã phát triển trong những năm qua. Schneider (1999) định nghĩa chất lượng thể chế công như là việc thi hành thẩm quyền hoặc kiểm soát để quản lý hoạt động và tài nguyên của một quốc gia. Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID, 2002) theo khía cạnh khác đã định nghĩa thể chế công là một hệ thống phức tạp của sự tương tác giữa các cấu trúc, truyền thống, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 chức năng và quy trình đặc trưng bởi giá trị của trách nhiệm giải trình, tính minh bạch và sự tham gia. UNDP (2002) định nghĩa thể chế công là phấn đấu vì quy định của pháp luật, tính minh bạch, công bằng, hiệu quả, trách nhiệm và tầm nhìn chiến lược trong việc thực thi quyền lực chính trị, kinh tế và hành chính.
Trong khi các tài liệu không cung cấp bất kỳ định nghĩa chính xác duy nhất nào về thuật ngữ thể chế công, nhưng dường như có một sự thống nhất về các khía cạnh của nó. “Thể chế công liên quan đến cách chính phủ được cấu trúc, quy trình quản lý và kết quả là thực hiện những điều liên quan đến nhu cầu của những công dân mà họ phục vụ” Jreisat (2002). Các khía cạnh này bao gồm các tổ chức của hệ thống xã hội, kinh tế và chính trị, phân bổ các nguồn lực công cho các thành viên của xã hội, việc thu hồi và thực thi quyền lực chính trị, tất cả đều quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của một xã hội bất kỳ. Như đã thảo luận bởi Keefer (2004), thuật ngữ thể chế công “rất đàn hồi và đa chiều”.
Tuy nhiên, Keefer (2004) cũng chỉ ra rằng hầu hết các định nghĩa đều liên quan đến “mức độ mà các chính phủ đáp ứng cho người dân và cung cấp cho họ các dịch vụ cốt lõi nhất định, chẳng hạn như bảo vệ quyền sở hữu, các quy định chung của pháp luật và mức độ mà thể chế cung cấp cho các nhà hoạch định chính phủ một động lực để đáp ứng tốt cho công dân”. Vì bản chất đa chiều của thể chế công, một số định nghĩa đã xuất hiện trong các tài liệu. Ngân hàng Thế giới định nghĩa thể chế công là “thực thi quyền lực chính trị để điều hành hoạt động của một quốc gia”. Ngân hàng Phát triển châu Phi (1999) mở rộng định nghĩa của Ngân hàng Thế giới để thích ứng với nền kinh tế toàn cầu thay đổi trong bối cảnh toàn cầu hóa.
AfDB định nghĩa thể chế công là “một quá trình đề cập đến cách thức mà quyền lực được thực thi trong việc quản lý vấn đề công của một quốc gia và mối quan hệ với các quốc gia khác”. Điều quan trọng cần lưu ý là các định nghĩa của Ngân hàng Thế giới và AfDB dường như chú trọng nhiều hơn về hiệu quả của chính phủ trong việc cung cấp dịch vụ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 cho các thành viên trong xã hội của họ. Tuy nhiên, như được thảo luận bởi Keefer (2004), khái niệm rộng hơn về thể chế công nên bao gồm các cơ chế khuyến khích chi phối các hành động của các tác nhân chính trị. Đây là vấn đề của hệ thống chính trị và kinh tế.
Những nghiên cứu trước đây về phát triển kinh tế ngầm giả định rằng các chính trị gia sẽ đưa ra quyết định tối đa hóa phúc lợi xã hội. Dethier (1999) đã đưa ra quan điểm rằng “chính phủ không phải là nhà độc tài nhân từ mà là những người tìm kiếm cách để tối đa hóa phúc lợi xã hội, nhưng cấu trúc thể chế phức tạp đặc trưng bởi các mối quan hệ đại diện”.Sử dụng hiệu quả các nguồn lực công không chỉ phụ thuộc vào thể chế (hạn hẹp như là cấu trúc tổ chức), mà còn phụ thuộc vào các chương trình ưu đãi trong các tổ chức công Dethier (1999). Một định nghĩa rộng hơn về thể chế được cung cấp bởi North (1990) là “những quy tắc của những trò chơi trong xã hội hoặc chính thức hơn là “những trở ngại mà con người đặt ra để hình thành sự giao tiếp giữa con người với nhau trong xã hội”. Định nghĩa rộng hơn này quy định cơ chế khuyến khích trong cơ chế ra quyết định.
Một định nghĩa khác ám chỉ tới cái nhìn toàn diện hơn về thể chế này được cung cấp bởi Kaufman và Kraay (2002). Kaufmann và Kraay (2002) định nghĩa thể chế công là “truyền thống và các tổ chức mà chính quyền được thực thi trong một quốc gia”. Theo các tác giả, điều này bao gồm quá trình mà các chính phủ được tuyển chọn, kiểm soát và thay thế; khả năng của chính phủ để thiết lập và thực thi chính sách; sự tôn trọng của người dân và nhà nước đối với các tổ chức để quyết định các tương tác giữa kinh tế và xã hội. Đặc biệt, quá trình mà các chính phủ được tuyển chọn và giám sát tác động rất lớn đến cơ chế khuyến khích trong các tổ chức chính phủ.
Tóm lại, hiệu quả của các chính phủ trong việc cung cấp dịch vụ cho người dân của họ rõ ràng không phải là ngoại sinh - nó phụ thuộc vào cơ chế khuyến khích, do đó phụ thuộc vào việc lựa chọn và giám sát chính trị và những nhà hoạch định chính sách LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phần sau của chương này sẽ thảo luận về các khía cạnh của thể chế đặt ra những thách thức nghiêm trọng cả về mặt lý thuyết và thực nghiệm trong nghiên cứu tác động của thể chế đến tăng trưởng kinh tế. Sự khác biệt về chính trị và thể chế của một số nước Cuộc điều tra trong nỗ lực tìm hiểu tác động kinh tế của thể chế công đã đưa ra phát hiện quan trọng là nên tập trung vào những nguyên nhân của sự khác biệt về thể chế giữa các nước. Nói cách khác, tại sao một số quốc gia có thể chế tương đối kém hiệu quả thì việc cung cấp các dịch vụ cho công dân của họ lại kém hơn so với các nước khác? Tại sao tham nhũng tràn lan ở một số nước mà không có ở những nước khác? Tại sao chúng ta quan sát sự khác biệt trong quan liêu, bảo vệ quyền sở hữu…giữa các quốc gia? Những nghiên cứu gần đây trong lĩnh vực phát triển kinh tế đã nỗ lực để trả lời một số trong các câu hỏi trên.
Phần này cung cấp một đánh giá ngắn gọn của một vài nghiên cứu. La Porta et al. (1999) đã đề cập đến vai trò của nguồn gốc thuộc địa trong việc giải thích sự khác biệt về thể chế hiện hành. Các tác giả nhận thấy rằng những nước mà trước đây là thuộc địa của Anh có thể chế tốt hơn trong việc bảo vệ quyền sở hữu so với các nước trước đây là thuộc địa của Pháp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha.
Phát hiện của họ được hỗ trợ bởi các tác giả khác, những người đã nhận thấy rằng thuộc địa của Anh đã áp dụng hệ thống pháp lý luật phổ biến (trái ngược với luật dân sự được mã hóa của Pháp) thì có thể chế kinh tế tốt hơn (Landes, 1998). Acemoglu et al. (2001) sử dụng một biến thể của mối liên hệ giữa thực dân và các thể chế hiện hành hoặc chất lượng thể chế. Họ nhìn vào “điều kiện ở các thuộc địa” chứ không phải ở các nước thực dân.
Tranh luận rằng các thể chế hiện tại là kết quả của loại hình thực dân định cư so với thực dân khai thác. Thực dân định cư là những người thực dân Châu Âu thành lập các khu định cư như Úc, Canada, Hoa Kỳ và New Zealand. Mặt khác, các thuộc địa khai thác là những nước mà các cường quốc thực dân khai thác nguyên vật liệu mà không cần thiết lập các khu định cư vĩnh viễn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Acemoglu et al.
(2001) cho rằng sự lựa chọn loại hình chủ nghĩa thực dân với các điều kiện ở các thuộc địa có thể được quan sát thấy từ tỷ lệ người châu Âu định cư tử vong. Ở những nơi mà tỷ lệ người định cư tử vong cao thì loại hình thuộc địa khai thác được thành lập. Vì vậy, các thể chế về bảo vệ quyền sở hữu không được đưa ra. Mặt khác, các thuộc địa định cư được đặc trưng bởi thể chế nhằm bảo vệ quyền sở hữu.
Các tác giả còn cho rằng điều này giải thích sự khác biệt trong thể chế hiện hành vì chất lượng thể chế có xu hướng tồn tại. Ndulu và O’Connell (1999) cũng chỉ ra những nguyên nhân lịch sử như một lời giải thích chính đáng cho các thể chế chính trị kém của khu vực châu Phi hạ Sahara. Ngoài chế độ thực dân, họ thảo luận về thời đại hậu thuộc địa được đặc trưng bởi chế độ độc tài dân sự trong những năm 60 và 70. Tiếp theo đó là chế độ độc tài quân sự trong những năm 80.
Họ cũng cho rằng tác động tiêu cực của những sự kiện chính trị liên tiếp được khuếch đại bởi tác động của chiến tranh lạnh mà kết quả rơi vào “một cuộc chiến để kiểm soát tư tưởng của các cường quốc lớn trong chiến tranh” - Hoa Kỳ và Liên Xô. Điều này có thể hoặc ít nhất một phần giải thích hiện trạng phát triển thể chế ở các nước này, do đó giải thích mức độ hoạt động kinh tế. Ý nghĩa của các sự kiện chính trị hậu thuộc địa tại khu vực châu Phi hạ Sahara và châu Mỹ La tinh đặc trưng bởi quy luật chủ nghĩa thuộc về nhà thờ, có thể liên quan đến việc “điểm xung đột xã hội” được đưa ra bởi Acemoglu et al. Theo quan điểm này, các thể chế được lựa chọn bởi những người kiểm soát quyền lực chính trị.