LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Thâm hụt ngân sách là vấn đề nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang phải đối mặt với những mức độ cao thấp khác nhau. Thâm hụt ngân sách không chỉ xảy ra ở các nƣớc đang phát triển và kém phát triển mà còn xảy ra ở các nƣớc phát triển trên thế giới. Gần đây, số liệu ngân sách ở nhiều nƣớc đƣợc công bố cho thấy các nƣớc trong khu vực châu Á đang phải vật lộn với thâm hụt ngân sách nhà nƣớc khổng lồ, do thất thu từ thuế mà các khoản chi (chi cho trợ cấp thất nghiệp, bảo hiểm thất nghiệp, chi trợ cấp năng lƣợng…) lại ngày càng tăng cao.
Mặt khác, tình trạng lạm phát gia tăng ở các nƣớc châu Á trong giai đoạn gần đây cũng là vấn đề cần phải quan tâm vì nó ảnh hƣởng đến việc phát triển kinh tế, nâng cao chất lƣợng đời sống nhân dân và ổn định xã hội. Có nhiều tranh luận về việc liệu thâm hụt ngân sách có dẫn đến lạm phát hay không? Oyejide (1972) lập luận rằng trong một nƣớc kém phát triển, sự gia tăng thâm hụt ngân sách luôn đồng hành với sự gia tăng lạm phát. Điều này ảnh hƣởng tới sự phát triển của nền kinh tế và làm thay đổi các quyết định ngân sách. Vì vậy, đánh giá tác động của thâm hụt ngân sách tới lạm phát có một vai trò quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách.
Các công trình nghiên cứu trên những nền kinh tế phát triển, đang phát triển và kém phát triển trƣớc đây đã xác định ảnh hƣởng của thâm hụt ngân sách đến lạm phát cũng nhƣ mức độ tác động của nó. Bằng việc kiểm định trong thực tế qua mô hình kinh tế lƣợng sẽ giúp ta có cái nhìn tổng quát hơn về tác động của thâm hụt ngân sách đến lạm phát để đƣa ra các giải pháp kiềm chế lạm phát thông qua thu chi ngân sách nhà nƣớc. Từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Tác động của thâm hụt ngân sách đến lạm phát: trƣờng hợp các quốc gia Đông Nam Á” để nghiên cứu và làm luận văn tốt nghiệp của mình. Mục tiêu nghiên cứu Đề tài đƣợc thực hiện nhằm hƣớng đến các mục tiêu sau: 2 - Đánh giá tác động của thâm hụt ngân sách đến lạm phát trƣờng hợp các quốc gia Đông Nam Á, đóng góp thêm bằng chứng thực nghiệm về mối liên hệ giữa thâm hụt ngân sách và lạm phát.
- Đƣa ra gợi ý hỗ trợ chính phủ trong việc kiểm soát lạm phát. Đối tƣợng nghiên cứu Lạm phát, thâm hụt ngân sách, cung tiền, tỷ trọng xuất khẩu, tỷ giá hoái đối giữa nội tệ với USD và GDP. Phạm vi thu thập dữ liệu - Không gian: 9/11 nƣớc Đông Nam Á: Brunei, Campuchia, Indonexia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Thái Lan, Việt Nam (trừ Đông Timor và Singapore) - Thời gian: 1990-2012 5. Dữ liệu nghiên cứu Dữ liệu hàng năm các chỉ số CPI, GDP deflator, thâm hụt ngân sách, cung tiền, xuất khẩu, tỷ giá chính thức (EXR) và GDP đƣợc lấy từ ấn phẩm Những chỉ số quan trọng ở các nƣớc Châu Á, Thái Bình Dƣơng (Key Indicators for Asia and the Pacific) của ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) và Cơ sở dữ liệu kinh tế thế giới (World Economic Outlook Database) của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF).
Tất cả chuỗi dữ liệu là cho giai đoạn 1990-2012. Phƣơng pháp nghiên cứu Nhằm đánh giá tác động của thâm hụt ngân sách đến lạm phát, tác giả dùng phƣơng pháp định lƣợng với 2 kỹ thuật: - Fixed effect - Random effect Ngoài ra, đề tài sử dụng kiểm định Hausman để lựa chọn kỹ thuật phù hợp. Đóng góp của đề tài - Đề tài nghiên cứu là bằng chứng thực nghiệm, một lần nữa khẳng định lại các lý thuyết trƣớc đó đúng trong trƣờng hợp các quốc gia đang phát triển Đông Nam Á. 3 - Là nguồn cung cấp tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu và những ngƣời quan tâm đến lĩnh vực này.
- Từ thống kê, mô tả và định lƣợng tác động của thâm hụt ngân sách đến lạm phát, đã tìm ra mối tƣơng quan giữa thâm hụt ngân sách và lạm phát. Thông qua đó, nhà điều hành chính sách có cái nhìn rõ hơn về những yếu tố tác động đến lạm phát, để từ đó có giải pháp điều chỉnh lạm phát thích hợp trong nền kinh tế cho từng giai đoạn. Hạn chế Đề tài sử dụng dữ liệu bảng nên không thể đƣa ra kiến nghị cụ thể đối với từng quốc gia. Ngoài ra đề tài chƣa xem xét vấn đề lựa chọn giữa mục tiêu kiềm chế lạm phát thông qua giảm thâm hụt và mục tiêu tăng trƣởng kinh tế.
Kết cấu đề tài Chƣơng 1: Tổng quan lý thuyết về thâm hụt ngân sách và lạm phát Chƣơng 2: Phƣơng pháp luận và mô hình nghiên cứu Chƣơng 3: Một số kiến nghị 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH VÀ LẠM PHÁT 1.1 Khái niệm Lạm phát là hiện tƣợng tiền trong lƣu thông vƣợt quá nhu cầu cần thiết làm cho chúng bị mất giá, giá cả của hầu hết các loại hàng hóa tăng lên đồng loạt. Lạm phát có những đặc trƣng là: - Hiện tƣợng gia tăng quá mức của lƣợng tiền có trong lƣu thông dẫn đến đồng tiền bị mất giá. - Mức giá cả chung tăng lên.2 Chỉ số đo lƣờng lạm phát Chỉ số giá tiêu dùng hay chỉ số giá cả CPI (consumer price index): phản ánh mức thay đổi giá cả của một giỏ hàng hóa tiêu dùng so với năm gốc. Thông thƣờng các nhóm chính trong giỏ hàng hóa là thực phẩm, quần áo, nhà cửa, chất đốt vận tải và y tế.
Do đó CPI phản ánh mức giá của cả hàng hóa nhập khẩu. Hệ số giảm phát GDP (GDP deflator) đƣợc tính trên cơ sở so sánh giá trị GDP tính theo giá hiện hành và GDP tính theo giá kỳ trƣớc. Nghĩa là đo lƣờng mức tăng và giảm giá trên tất cả các loại hàng hoá dịch vụ tính trong GDP (kể cả hàng hóa do doanh nghiệp và chính phủ mua). Do đó nó phản ánh toàn diện hơn chỉ số giá tiêu dùng.3 Các nguyên nhân gây ra lạm phát Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng lạm phát, trong đó "lạm phát do cầu kéo" và "lạm phát do chi phí đẩy" đƣợc coi là hai thủ phạm chính.
5 Lạm phát do cầu kéo: Khi nền kinh tế đạt tới hoặc vƣợt quá sản lƣợng tiềm năng, việc tăng tổng mức cầu dẫn tới lạm phát, đƣợc gọi là lạm phát do cầu kéo hay lạm phát nhu cầu. (Khi nhu cầu của thị trƣờng về một mặt hàng nào đó tăng lên sẽ kéo theo sự tăng lên về giá cả của mặt hàng đó. Giá cả của các mặt hàng khác cũng theo đó leo thang, dẫn đến sự tăng giá của hầu hết các loại hàng hóa trên thị trƣờng). Lạm phát do chi phí đẩy: Khi chi phí sản xuất kinh doanh tăng sẽ đẩy giá cả tăng lên ngay cả khi các yếu tố sản xuất chƣa đƣợc sử dụng đầy đủ, đƣợc gọi là lạm phát do chi phí đẩy.
Chi phí đẩy của các doanh nghiệp bao gồm tiền lƣơng, giá cả nguyên liệu đầu vào, máy móc, chi phí bảo hiểm cho công nhân, thuế. Khi giá cả của một hoặc vài yếu tố này tăng lên thì tổng chi phí sản xuất của các xí nghiệp chắc chắn cũng tăng lên, vì thế mà giá thành sản phẩm cũng sẽ tăng lên nhằm bảo toàn lợi nhuận và thế là mức giá chung của toàn thể nền kinh tế cũng sẽ tăng. Lạm phát quán tính: Lạm phát quán tính còn đƣợc gọi là lạm phát dự đoán. Đó là loại lạm phát mà mọi ngƣời dự đoán nó sẽ xảy ra trong tƣơng lai.
Khi mọi ngƣời dự đoán đƣợc mức lạm phát trong tƣơng lai, họ sẽ đƣa tỷ lệ lạm phát này vào các hợp đồng kinh tế, hợp đồng lao động,… Mặt khác, có những nguyên nhân chủ quan bắt nguồn từ những chính sách quản lý kinh tế không phù hợp của Nhà Nƣớc nhƣ chính sách cơ cấu kinh tế, chính sách lãi suất,… làm cho nền kinh tế quốc dân bị mất cân đối, kinh tế tăng trƣởng chậm ảnh hƣởng đến nền kinh tế tài chính quốc gia. Một khi NSNN bị thâm hụt thì tất yếu là Nhà Nƣớc phải tăng chỉ số phát hành tiền. Đặc biệt đối với một số quốc gia, trong những điều kiện nhất định, Nhà Nƣớc chủ trƣơng dùng lạm phát nhƣ một công cụ để thực thi chính sách phát triển kinh tế. Ngoài ra, nguyên nhân khách quan đƣa đến nhƣ thiên tai, chiến tranh, tình hình biến động của thị trƣờng nguyên vật liệu, nhiên liệu trên thế giới, … 6 Tóm lại, lạm phát xảy ra khi xuất hiện sự gia tăng mặt bằng chung về giá cả hàng hóa.
Trong mỗi giai đoạn có thể có giá mặt hàng này tăng, mặt hàng kia giảm, nhƣng nếu mức giá chung tăng, thì có lạm phát. Nếu mức giá chung giảm, thì có giảm phát. Nếu chỉ có một vài mặt hàng chẳng hạn nhƣ giá đƣờng, hay giá gạo tăng một cách đơn lẻ thì không có nghĩa là lạm phát, mà đơn giản chỉ là một sự mất cân đối tạm thời giữa cung và cầu trong ngắn hạn. Khi lạm phát xảy ra, giá trị của đồng tiền bị sụt giảm.2 Thâm hụt ngân sách 1.1 Khái niệm Thâm hụt NSNN, hay còn gọi là bội chi NSNN, là chênh lệch thiếu giữa tổng số chi và tổng số thu (thu từ thuế và một số khoản thu không mang tính chất hoàn trả) của NSNN.
Đây là hiện tƣợng mất cân đối giữa lƣợng giá trị sản phẩm đƣợc Nhà Nƣớc huy động với lƣợng tiền tệ chi ra đã đƣợc phân phối sử dụng trong năm. Tình trạng khi tổng chi tiêu của NSNN vƣợt quá các khoản thu "không mang tính hoàn trả" của NSNN. Bảng cân đối thu chi NSNN hàng năm Thu Chi A. Thu thƣờng xuyên (thuế, phí, lệ phí) D.
Chi thƣờng xuyên B. Thu về vốn (bán tài sản Nhà Nƣớc) E. Bù đắp thâm hụt F. Cho vay thuần - Viện trợ (= cho vay mới – thu nợ gốc) - Lấy từ nguồn dự trữ - Vay thuần (= vay mới – trả nợ gốc) Nguyên tắc: A + B +C = D + E + F Công thức tính thâm hụt NSNN của một năm sẽ nhƣ sau: Bội chi NSNN (C) = (D + E + F) – (A + B) Bội chi NSNN không hẳn luôn luôn là biểu hiện của tình trạng kinh tế tốt hay xấu, cũng không hẳn luôn là biểu hiện của sự điều hành NSNN hợp lý hay chƣa.