Chương 1 đã nêu lý do chọn đề tài cũng như sự cần thiết trong việc đánh giá tác động của TTTD và các yếu tố khác đến KNSL của các NHTM Việt Nam. Từ mục tiêu tổng quát, khóa luận xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể và 3 câu hỏi nghiên cứu tương ứng. Chỉ rõ đối tượng và phạm vi nghiên cứu là 25 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2013 – 2023, sử dụng phương pháp định tính và chủ yếu là phương pháp định lượng trên nền tảng kế thừa và phát triển từ các nghiên cứu trước để phân tích tác động của TTTD và các yếu tố khác đến KNSL. Phần cuối tác giả trình bày kết cấu khóa luận gồm 5 chương và sơ lược về nội dung chính của mỗi chương.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chương 2 sẽ trình bày cơ sở lý thuyết bao gồm các khái niệm, chỉ tiêu đo lường TTTD và KNSL của ngân hàng. Tiếp đó là tiến hành lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước về tác động của TTTD đến KNSL của các NHTM. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Khái niệm về khả năng sinh lời của ngân hàng Thực chất, ngân hàng là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ với mục tiêu hàng đầu là tạo ra lợi nhuận.
KNSL của ngân hàng là khả năng tạo ra lợi nhuận vượt qua các khoản chi phí và rủi ro của hoạt động kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định, được xác định bằng số tiền còn lại sau khi trừ đi tất cả các chi phí hoạt động và khoản lỗ từ các hoạt động kinh doanh (gồm tiền lãi thu từ cho vay, phí dịch vụ và các khoản thu nhập khác) trong kỳ hiện tại. Đồng thời KNSL của ngân hàng cũng có thể được tăng lên thông qua các hoạt động đầu tư chứng khoán, bất động sản hoặc các khoản thu từ các khoản cho vay hoặc đầu tư. Rose (2002), NHTM được coi là một tập đoàn kinh doanh và hoạt động trong phạm vi rủi ro cho phép với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. KNSL được xem là mối quan tâm hàng đầu của NHTM bởi thu nhập cao sẽ giúp các ngân hàng bảo toàn được nguồn vốn, mở rộng thị phần và thu hút vốn đầu tư.
Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong một năm là lợi nhuận được xác định dựa trên sự chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí, bao gồm cả thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi từ các hoạt động khác của ngân hàng (Peter S. KNSL là thước đo hiệu quả bằng tiền, phản ánh sức khỏe tài chính cũng như hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp; là chỉ số quan trọng để đánh giá kết quả trong việc khai thác các nguồn lực ngân hàng để tạo ra lợi nhuận thông qua việc bán các sản phẩm dịch vụ của mình. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm trước đã chỉ ra rằng hiệu quả hoạt động của ngân hàng được đo lường thông qua KNSL như nghiên cứu của Rossi và cộng sự (2019), Sugeng Haryanto (2016), Lê Ngọc Thùy Trang (2013). Các chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng Bản chất của NHTM là hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, tuy nhiên lợi nhuận là một con số tuyệt đối nên không thể phản ánh đầy đủ sự thay đổi trong hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, do đó cần phải xem xét mối quan hệ tương quan giữa lợi nhuận với các chỉ tiêu khác như tài sản, nguồn vốn, khả năng bù đắp chi phí, v.
khi đánh giá hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Hay nói cách khác, hiệu quả hoạt động của một NHTM có thể được đánh giá toàn diện dựa vào các chỉ số thể hiện KNSL. Mỗi một chỉ số sẽ phản ánh KNSL của ngân hàng ở các góc độ tiếp cận khác nhau. Mishkin và Eakins (2012) cho rằng phương thức thông dụng nhất để đo lường KNSL và có thể khắc phục những hạn chế của lợi nhuận ròng là thông qua tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên VCSH (ROE).
Ngoài ra, trong các chỉ số lành mạnh tài chính (FSIs) được xây dựng bởi Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), nhóm chỉ số đánh giá về lợi nhuận và hiệu quả hoạt động ngân hàng bao gồm hai chỉ số đó là doanh thu trên tổng tài sản (ROA) và doanh thu trên VCSH (ROE). Nghiên cứu này tập trung đánh giá KNSL của NHTM qua hai chỉ tiêu ROA và ROE vì tỷ lệ thu nhập lãi thuần cận biên (NIM) chỉ đo lường thu nhập lãi thuần, chưa bao gồm các khoản thu nhập ngoài lãi của ngân hàng; còn EPS thì bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố ngoài hiệu quả hoạt động, chẳng hạn như nó có thể tăng đột biến do lợi nhuận ròng tăng khi ngân hàng bán tài sản nào đó. Do đó EPS chưa phản ánh chính xác tình hình hoạt động kinh doanh ở thời điểm hiện tại của doanh nghiệp. Mặt khác, trên cơ sở lý thuyết, lợi nhuận trong nghiên cứu này được định nghĩa là lợi nhuận từ tất cả các khoản khác nhau mà ngân hàng thu về, song chỉ số ROA và ROE có tính bao quát hơn các khoản lợi nhuận và cung cấp một cái nhìn tổng quan hơn về 9 hiệu quả sử dụng tài sản và nguồn vốn của ngân hàng, vì vậy chúng phù hợp để sử dụng làm biến đo lường KNSL của các NHTM trong nghiên cứu.
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) là tỷ lệ của lợi nhuận ròng trên tổng tài sản. ROA là chỉ số thể hiện mức độ hiệu quả và tiềm lực của ngân hàng trong quá trình sử dụng tài sản để tạo ra doanh thu. Tỷ lệ ROA cho biết với mỗi đồng tài sản của ngân hàng có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Công thức tính ROA như sau: Lợi nhuận sau thuế ROA = x 100% Tổng tài sản Nếu ROA lớn hơn 0 thể hiện ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý và có lãi từ hoạt động kinh doanh, mức ROA càng cao thì KNSL càng lớn.
Ngược lại nếu ROA nhỏ hơn 0 là dấu hiệu cho thấy ngân hàng hoạt động không hiệu quả. Chỉ số ROA luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý bởi dựa vào chỉ số này, họ sẽ phân tích KNSL và từ đó xác định hướng đi tốt nhất cho ngân hàng để thu về mức lợi nhuận cao nhất. Theo tiêu chuẩn CAMEL, hiệu quả hoạt động của ngân hàng được đánh giá cao nhất khi ROA lớn hơn 1,5% (Rozzani và Rahman, 2013). Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) Tỷ suất sinh lời trên VCSH (ROE) là tỷ lệ của thu nhập ròng trên tổng VCSH.
Chỉ số ROE đo lường KNSL của ngân hàng trên mỗi đồng vốn, nó phản ánh hiệu quả sử dụng vốn và luôn thu hút sự quan tâm từ các nhà đầu tư. Tỷ lệ ROE cho biết với mỗi đồng VCSH sẽ thu lại được bao nhiêu đồng lợi nhuận trong một khoảng thời gian cụ thể (thường là 01 năm). Nó đánh giá thu nhập mà các cổ đông nhận được từ nguồn vốn mà họ đã đầu tư. Công thức tính ROE như sau: Lợi nhuận sau thuế ROE = x 100% Tổng vốn chủ sở hữu Khi ngân hàng sử dụng vốn từ cổ đông hiệu quả, kết hợp với cơ cấu nguồn vốn hợp lý, lợi nhuận ròng mà các cổ đông nhận được sẽ càng cao, mang lại lợi ích càng lớn cho ngân hàng.
Chỉ số ROE càng cao cho thấy ngân hàng đạt được hiệu suất 10 tài chính tốt từ việc sử dụng vốn, song có lợi ích nâng cao giá trị cho cổ đông và ngược lại. Theo tiêu chuẩn CAMEL, hiệu quả hoạt động của ngân hàng đạt cao nhất khi ROE lớn hơn 22% (Rozzani và Rahman, 2013). CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Tín dụng ngân hàng 2.
Khái niệm “Tín dụng là mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả vốn gốc và lãi cho bên chuyển giao tiền hoặc tài sản vô điều kiện theo thời hạn đã thỏa thuận. Bùi Diệu Anh và cộng sự (2011) đã định nghĩa “Tín dụng ngân hàng là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng/ tổ chức tín dụng khác) chuyển giao một tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” Hardjono và cộng sự (2003) cho biết tín dụng là tiền hoặc khoản cung cấp tương đương tiền dựa trên hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng với bên khác, trong đó bên đi vay có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ cùng với lãi suất đã được định sau thời gian đã cam kết với ngân hàng. Tóm lại, TDNH là mối quan hệ vay mượn giữa một bên là ngân hàng và một bên là chủ thể (gồm tất cả các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp) trong xã hội có nhu cầu sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế. Theo đó ngân hàng sẽ chuyển nhượng cho chủ thể quyền sử dụng một lượng giá trị hay hiện vật dựa trên các điều kiện đã cam kết thỏa thuận giữa hai bên và trên nguyên tắc có hoàn trả cả vốn lẫn lãi.
Đây không phải là quan hệ dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu mà là quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua một tổ chức tài 11 chính trung gian, đó là ngân hàng. Có thể thấy, TDNH mang bản chất của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ vay mượn có hoàn trả đầy đủ cả vốn và lãi sau thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn tạm thời và là quan hệ bình đẳng hai bên cùng có lợi. TDNH góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội. Trong nền kinh tế, vấn đề thừa vốn tạm thời diễn ra rất thường xuyên.
Hoạt động cho vay giúp cân đối vốn từ người tạm thời thừa sang người có nhu cầu vay vốn, vì vậy những khoản vốn này có thể được huy động để sinh lợi nhuận và tạo ra thu nhập. Theo Lê Thị Tuyết Hoa và Nguyễn Thị Nhung (2011), tín dụng là cơ hội để các chủ thể cần vốn bù đắp phần vốn thiếu, bổ sung vốn kịp thời, mở rộng sản xuất kinh doanh, đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ hàng hóa và tạo điều kiện cho quá trình sản xuất diễn ra liên tục.