chương 1 sẽ trình bày cơ sở lý thuyết có liên quan đến mối quan hệ giữa rủi ro và khả năng sinh lời của ngân hàng. Sau đó, tác giả lược khảo những nghiên cứu trước đây có liên quan, từ đó làm cơ sở để đưa ra giả thuyết nghiên cứu cụ thể khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa rủi ro và khả năng sinh lời của ngân hàng. Khái niệm về rủi ro ngân hàng Rủi ro là nguy cơ xảy ra những sự kiện ngoài mong muốn, gây ra những tác động bất lợi cho cá nhân hoặc tổ chức. Đối với ngân hàng, các tác động này có thể dẫn đến sự giảm sút trong doanh thu, hoặc đặt ngân hàng vào tình trạng khó khăn về tài chính.
Ngoài ra, các tác động này có thể biểu hiện dưới dạng phi tài chính gây hậu quả tiêu cực đến uy tín, khả năng sinh lời trong tương lai của ngân hàng. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng được hiểu là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng. Trong hoạt động của một NHTM thì thường không phải bất cứ những sự kiện nào xấu cũng là rủi ro, mà có thể là bất trắc. Bất trắc là sự ngẫu nhiên của kết quả.
Nếu như những sự kiện xấu đó không gây ra tổn thất cho ngân hàng thì đó là bất trắc, không nên coi là rủi ro. Rủi ro thường đi đôi với lợi ích, rủi ro càng cao thì khả năng sinh lời kì vọng cho ngân hàng càng lớn. Các ngân hàng cần phải đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro – lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được lợi ích xứng đáng với mức rủi ro chấp nhận. Do đó, chấp nhận rủi ro là yêu cầu tất yếu đối với ngân hàng.
Phân loại rủi ro ngân hàng Là ngành kinh doanh đặc biệt trong nền kinh tế nên rủi ro trong lĩnh vực ngân hàng thường rất nhiều và rất cao. Theo Ủy ban Basel (1999) cho rằng rủi ro của các tổ chức tài chính được phân thành: rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro hoạt động, rủi ro pháp lý và rủi ro danh tiếng. Trong số đó, một số rủi ro ít gặp hơn có thể kể đến như rủi ro pháp lý, rủi ro thị trường, rủi ro danh tiếng. Rủi ro tín dụng Tại Điều 4, Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 18/6/2010 của Quốc hội quy định: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.
Tại Điều 3, Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN nêu rõ: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện, hoặc không có khả năng thực hiện một phần hay toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Cấp tín dụng là hoạt động quan trọng nhất, sử dụng nhiều vốn nhất tại nhiều ngân hàng. Với nhiều ngân hàng nhỏ, các dịch vụ khác như thanh toán, kinh doanh ngoại tệ, bảo hiểm … chưa phát triển mạnh, hoạt động tín dụng là hoạt động truyền thống, chủ yếu và mang lại thu nhập chính cho ngân hàng. Tuy nhiên khả năng khách hàng không thực hiện đúng cam kết không chỉ phụ thuộc vào sự quản lý của ngân hàng, mà còn bị ảnh hưởng bởi bản thân khách hàng và sự tác động của môi trường mà khách hàng hoạt động.
Do đó, nguy cơ xảy ra rủi ro tín dụng là rất lớn và mức độ nghiêm trọng của tổn thất tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể mà không tuân theo một quy luật chung. Giá trị tổn thất có thể chỉ là vài triệu đồng nhưng cũng có thể lên tới hàng ngàn tỷ đồng. Rủi ro tín dụng nếu xảy ra, ảnh hưởng trước hết đến thu nhập, nguồn vốn của ngân hàng, sau đó có thể là uy tín, thậm chí làm phá sản ngân hàng. Mặc dù không một nhà kinh doanh ngân hàng tài ba nào có thể dự đoán chính xác các vấn đề có thể xảy ra trong tương lai với khoản tín dụng của mình, và rủi ro tín dụng là bạn đường trong kinh doanh, ngân hàng cần có những biện pháp quản lý chặt chẽ và tích cực để hạn chế tối đa khả năng xảy ra rủi ro cũng như tổn thất đối với ngân hàng.
Rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản là khả năng xảy ra tổn thất khi ngân hàng không có khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính của mình. Rủi ro thanh khoản là một trong 7 những rủi ro thường trực, bao trùm và là loại rủi ro quan trọng hàng đầu đối với sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Rủi ro thanh khoản có thể làm giảm thu nhập, uy tín của ngân hàng, lớn hơn có thể khiến ngân hàng mất khả năng thanh toán. Rủi ro thanh khoản có thể xuất phát từ những nguyên nhân như có quá nhiều nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất; niềm tin của khách hàng suy giảm; mất cân đối về thời hạn giữa nguồn vốn huy động và sử dụng vốn; khách hàng rút tiền ồ ạt, tức thời; hoặc yêu cầu thực hiện các cam kết tín dụng của ngân hàng … Một ngân hàng có dự trữ tài sản thanh khoản thấp hay tỷ trọng các nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất thị trường cao thường có mức độ rủi ro thanh khoản cao.
Ngoài ra, một ngân hàng gia tăng nhanh chóng về tổng tài sản mà không đi đôi với nguồn vốn có kỳ hạn phù hợp cũng có thể phải đối mặt với rủi ro thanh khoản cao hơn. Rủi ro thanh khoản cần được xem xét trong mối quan hệ với các rủi ro khác do có thể bị kích hoạt bởi các rủi ro khác như rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng … Nếu ngân hàng có rủi ro tín dụng gia tăng do việc gia tăng và tập trung tín dụng có thể dẫn tới sự gia tăng rủi ro thanh khoản. Tương tự, lãi suất gia tăng có thể làm không chỉ có thể làm tăng rủi ro lãi suất mà còn khiến khách hàng rút tiền hàng loạt. Rủi ro lãi suất Là những thiệt hại mà NHTM phải gánh chịu khi có sự thay đổi lãi suất trên thị trường.
Nếu ngân hàng duy trì cơ cấu tài sản Có và tài sản Nợ với những kỳ hạn không cân xứng với nhau thì phải chịu những rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ tài sản Có hoặc khi giá trị của tài sản thay đổi do lãi suất thị trường biến động. Ngoài ra, rủi ro lãi suất còn thể hiện khi tỷ lệ lạm phát tăng nhanh hơn lạm phát dự kiến trong khi lãi suất cho vay không thể điều chỉnh được, thì ngân hàng có thể phải chịu rủi ro nếu tỷ lệ lạm phát lớn hơn hoặc bằng lãi suất cho vay (lãi suất thực tế âm). Rủi ro hoạt động Rủi ro hoạt động là khả năng xảy ra tổn thất do sai sót trong các hoạt động nội bộ của ngân hàng. Các sai sót này xảy ra khi quy trình nội bộ không đầy đủ hoặc chưa chính xác, do còn người có trình độ chuyên môn hoặc đạo đức kém, do các hệ thống máy móc vận hành chưa thông suốt … Trong hoạt động của ngân hàng, nhân viên ngân hàng có thể cố tình gian lận hay vô tình mắc lỗi, ngân hàng thiếu hoặc 8 mất những vị trí chủ chốt.
Rủi ro hoạt động có thể bị gây ra bởi công nghệ thông tin nếu chất lượng, phần mềm kém, dữ liệu thông tin không đầy đủ hoặc hệ thống bảo mật thông tin không an toàn sẽ dễ gây ra các sai sót hoặc lỗ hổng an ninh hệ thống. Một nguyên nhân khác là từ quy trình, hệ thống không đầy đủ, thiếu hướng dẫn cụ thể gây khó khăn cho nhân viên hoặc có nhiều điểm bất cập, chưa hoàn chỉnh, tạo kẽ hở cho kẻ xấu lợi dụng gây thiệt hại cho ngân hàng. Rủi ro này có thể xảy ra do các yếu tố bên ngoài như pháp luật, thiên tai, tội phạm, khủng bố … Trên thực tế, rủi ro hoạt động luôn hiện hữu trong tất cả các giao dịch của ngân hàng. Có thể xem xét mức độ xảy ra và mức độ thiệt hại của rủi ro hoạt động theo 2 khía cạnh: những hoạt động có tần suất lớn nhưng mức độ thiệt hại lại nhỏ: như các nhầm lẫn, sai sót của nhân viên … và những hoạt động có tần suất nhỏ nhưng mức độ thiệt hại lại lớn, thậm chí có thể dẫn đến phá sản ngân hàng.
Rủi ro khác Ngoài ra, một số rủi ro ít gặp hơn có thể kể đến như rủi ro pháp lý, rủi ro thị trường, rủi ro danh tiếng. Rủi ro pháp lý là những rủi ro mang tính chất pháp lý. Những rủi ro này xảy ra gắn liền với việc không tuân thủ pháp luật của NHTM, của người vay hay của cơ quan pháp luật trong việc thực thi pháp luật hoặc từ chính những bất cập của pháp luật. Rủi ro thị trường là rủi ro do biến động bất lợi của tỷ giá, giá vàng, giá chứng khoán và giá hàng hóa trên thị trường.
Rủi ro danh tiếng là rủi ro do khách hàng, đối tác, cổ đông, nhà đầu tư hoặc công chúng có phản ứng tiêu cực về uy tín của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Theo quy đinh tại Khoản 28 Điều 2 Thông tư số 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do Thống đốc NHNN ban hành. Cơ sở lý luận về khả năng sinh lời của ngân hàng 1. Khái niệm về khả năng sinh lời của ngân hàng Như vậy, khả năng sinh lời ngân hàng có thể hiểu đơn giản là một thuật ngữ phản ánh mối quan hệ giữa khả năng sinh lợi nhuận và quy mô ngân hàng.
Khả 9 năng sinh lời cho chúng ta biết hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Khả năng sinh lời là một trong các đo lường quan trọng đánh giá kết quả tài chính của các NHTM, được xem xét trên cơ sở kết hợp kết quả kinh doanh và nguồn lực sử dụng. Khả năng sinh lời là nền tảng quan trọng giúp các ngân hàng đổi mới, đa dạng hóa sản phẩm, từ đó kinh doanh hiệu quả.