Chương 1: Tổng quan lý luận về tác động của tăng trưởng kinh tế tới bất bình đẳng thu nhập Chương 2: Địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương 4: Bàn luận và hàm ý chính sách Luan van 15 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ TỚI BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP 1. LÝ THUYẾT VỀ TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ 1. Khái niệm về tăn trƣởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi của lý luận về phát triển kinh tế. Việc nghiên cứu tăng trưởng kinh tế ngày càng có hệ thống và hoàn thiện hơn.
Chúng ta cùng thừa nhận rằng, tăng trưởng không đồng nghĩa với phát triển, tuy nhiên tăng trưởng lại là điều kiện cần, điều kiện tiên quyết cho phát triển. Nhận thức đúng đắn về tăng trưởng kinh tế và ứng dụng có hiệu quả những kinh nghiệm về nghiên cứu, hoạch định chính sách tăng trưởng kinh tế là rất quan trọng. Mục tiêu hàng đầu của tất cả các nước trên thế giới là tăng trưởng và phát triển kinh tế, nó là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ trong mỗi giai đoạn của từng quốc gia. Điều này càng có ý nghĩa quan trọng đối với các nước đang phát triển trong quá trình theo đuổi mục tiêu tiến kịp và hội nhập với các nước phát triển.
Chính vì vậy vấn đề nhận thức đúng đắn về tăng trưởng kinh tế và sử dụng có hiệu quả những kinh nghiệm về nghiên cứu, hoạch định chính sách tăng trưởng kinh tế là rất quan trọng và cần thiết.Tăng trưởng kinh tế được định nghĩa là sự gia tăng mức sản xuất của nền kinh tế theo thời gian. Tăng trưởng kinh tế không đồng nghĩa với việc phát triển kinh tế. Nhưng tăng trưởng kinh tế không chỉ là trọng tâm mà còn là điều kiện quyết định quá trình phát triển và phát triển bền vững cũng như xóa đói nghèo không thể diễn ra nếu không có tăng trưởng kinh tế. Khái niệm tăng trưởng trong kinh tế vĩ mô chỉ là sự gia tăng sản lượng hàng hóa dịch vụ của nền kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế liên quan đến sự gia Luan van 16 tăng thu nhập quốc dân thực trên đầu người, nghĩa là sự gia tăng giá trị hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trên mỗi đầu người trong một nền kinh tế sau khi đã điều chỉnh lạm phát. Đây là một số đo mục tiêu tương đối về năng lực kinh tế. TS Bùi Quang Bình, Giáo trình kinh tế phát triển, trang 7) Tốc độ tăng trưởng nhanh có thể làm cho một quốc gia nghèo đuổi kịp và vượt qua quốc gia giàu hơn mình. Những nước tăng trưởng nhanh, thu nhập bình quân đầu người được nâng cao sẽ tạo điều kiện cho xã hội phát triển, đời sống vật chất và văn hóa của công chúng có cơ hội được tăng lên.
Ngược lại, một nước tăng trưởng chậm, thu nhập thấp thì sẽ phải đương đầu với những mâu thuẫn liên miên trong quá trình chọn lựa các mục tiêu. Điều đó lý giải vì sao tất cả các quốc gia đều quan tâm đến vấn đề tăng trưởng. Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về sản lượng hay thu nhập thực tế được tính cho toàn bộ nền kinh tế (của một quốc gia, một vùng hay một ngành) trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Tăng trưởng kinh tế có thể biểu thị bằng số tuyệt đối (quy mô tăng trưởng) hoặc số tương đối (t lệ tăng trưởng).
Trong phân tích kinh tế, để phản ánh mức độ mở rộng quy mô của nền kinh tế, khái niệm tốc độ tăng trưởng kinh tế thường được dùng. Đó là t lệ phần trăm giữa sản lượng tăng thêm của thời kỳ nghiên cứu so với mức sản lượng của thời kỳ trước đó hoặc thời kỳ gốc. Kết quả các hoạt động kinh tế hàng năm của nền kinh tế được tạo ra bởi kết quả hoạt động sản xuất của tất cả người sản xuất trong nền kinh tế như doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình…Hoạt động sản xuất của họ là quá trình sử dụng các nguồn lực như tài nguyên, vốn, lao động, công nghệ …kết hợp với nhau để tạo ra sản lượng. Quá trình này họ tích lũy mở rộng để tăng năng lực sản xuất và tăng dần sản lượng.
Kết quả hoạt động của nền kinh tế ngày càng tăng lên theo thời gian hay tăng trưởng kinh tế ( Mankiw, N.G (2000) ) Luan van 17 Cũng trong nghiên cứu này Mankiw, N.G (2000) đã chỉ ra rằng xu hướng thay đổi của GDP thực tế xoay quanh mức sản lượng tự nhiên của nền kinh tế mà trong đó đường xu thế của sản lượng tự nhiên dốc lên theo xu thế thay đổi năng lực sản xuất ngày càng mở rộng của nền kinh tế trong dài hạn. Trong ngắn hạn, mức sản lượng thực tế cũng có thể cao hơn hay thấp hơn mức sản lượng tự nhiên do tác động từ các cú sốc cung hay cầu, khi đó sẽ xuất hiện các chu kỳ biến động kinh tế. Các chu kỳ biến động sẽ kết thúc và nền kinh tế sẽ cân bằng trở lại theo cơ chế tự cân bằng hay có các biện pháp can thiệp của chính phủ. Như vậy trong dài hạn xu thế tăng trưởng kinh tế vẫn thể hiện một sự đi lên và ổn định như kết quả của quá trình mở rộng năng lực sản xuất không ngừng.
Trước đây, các nước tư bản thường lựa chọn mục tiêu tăng trưởng mạnh, tăng trưởng nhanh cho con đường phát triển kinh tế. Những định hướng, động lực, phương thức và các giải pháp đều ưu tiên cho mục tiêu tăng trưởng nhanh mà không mấy quan ngại đến các hiệu ứng tiêu cực lên các vấn đề xã hội và môi trường, môi sinh. Hay nói cách khác, theo cách lựa chọn này họ tập trung phần lớn nguồn lực vào các chính sách đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng mà bỏ qua các nội dung xã hội. Các vấn đề về bình đẳng, công bằng xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống chỉ được đặt ra khi đạt được một mức tăng trưởng kinh tế/thu nhập cao nhất định.
Dưới góc độ thuần tuý về kinh tế, đây là mô hình thực nghiệm hiệu quả cho sự khởi sắc kinh tế với tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân rất cao. Tuy vậy, cũng từ những mô hình thực nghiệm này đã minh chứng cho những hệ quả xấu, trở thành hệ luỵ cho sự phát triển các thế hệ sau; một mặt cùng với quá trình tăng trưởng nhanh, sự bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, xã hội ngày càng gay gắt, các nội dung về nâng cao chất lượng cuộc sống thường không được quan tâm, một số giá trị văn hoá, lịch sử truyền thống bị phá hu. Mặt khác, việc chạy theo mục tiêu Luan van 18 tăng trưởng nhanh trong ngắn hạn là nguyên nhân cơ bản của sự lãng phí và dẫn đến cạn kiệt tài nguyên, vấy bẩn môi trường sinh thái. Sự lựa chọn của một số nước như Brazil, Mexico, Malaysia, Indonesia, Philipin…là những minh chứng sinh động cho thực tiễn này.
Ngược lại, có một số quốc gia thực hiện mô hình nhấn mạnh vào bình đẳng và công bằng xã hội trước. Theo đó, các nguồn lực phát triển, phân phối thu nhập cũng như chăm sóc sức kho , giáo dục, văn hoá được quan tâm và thực hiện theo phương thức dàn đều, bình quân cho mọi ngành, mọi vùng và các tầng lớp dân cư trong xã hội. Đây là mô hình mà các nước đi theo xã hội chủ nghĩa đã thực hiện, trong đó có Việt Nam. Cho đến nay, chúng ta đã nhận diện được hai câu chuyện là những tác động cản đối với quá trình thực hiện mô hình này; thứ nhất, nền kinh tế thiếu các động lực cần thiết cho sự tăng trưởng nhanh, mức thu nhập bình quân đầu người thấp, nền kinh tế lâu khởi sắc và ngày càng trở nên tụt hậu so với mức chung của thế giới.
Các chỉ tiêu xã hội thường chỉ đạt cao về mặt số lượng mà có thể không đảm bảo về chất lượng. Thứ hai, sự phân bổ các nguồn lực một cách hợp lý, tối ưu là điều kiện tiên quyết cho sự thành công của mô hình này. Tuy nhiên, trên thực tế thực hiện được điều này là vô cùng khó khăn, và cho đến nay gần như chưa một quốc gia nào đạt được, bởi nó không chỉ mang nặng tính cơ chế mà còn các vấn đề quan trọng khác liên quan như con người, nhận thức, và các quy chuẩn cần thiết. Bùi Quang Bình (2012) “Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế (GDP) hay sản lượng của nền kinh tế tính trên đầu người (GDP người) qua một thời gian nhất định.
Thường được phản ảnh qua mức tăng trưởng và t lệ tăng trưởng.” Khi bàn tới tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam Nguyễn Văn Nam, Trần Thọ Đạt (2006) đã khẳng định việc nền kinh tế đạt Luan van 19 được t lệ tăng trưởng cao có thể trong nhiều năm sẽ là điều kiện quan trọng để đánh giá chất lượng tăng trưởng. Như vậy, các công trình nghiên cứu cả lý thuyết và thực nghiệm đều lấy nội dung xu thế tăng trưởng trong dài hạn để đánh giá tăng trưởng kinh tế. Đồng thời tiêu chí đánh giá được sử dụng là giá trị GDP hay GNP theo giá cố định hay t lệ tăng GDP hay GNP hàng năm và trung bình theo thời gian. Tính ổn định của tăng trưởng thường được xác định bằng t lệ biến thiên – mức ổn định thông qua so sánh sai lệch giữa tăng trưởng hàng năm và trung bình.
Tóm lại: Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về sản lượng hay thu nhập thực tế được tính cho toàn bộ nền kinh tế (của một quốc gia, một vùng hay một ngành) trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Tăng trưởng kinh tế có thể biểu thị bằng số tuyệt đối (quy mô tăng trưởng) hoặc số tương đối (t lệ tăng trưởng). Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ. Thu nhập của nền kinh tế có thể biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị.
Thu nhập bằng giá trị phản ánh qua các chỉ tiêu và được tính cho toàn thể nền kinh tế hoặc tính bình quân trên đầu người. 1 1 2 Đo lƣờn tăn trƣởng kinh tế Nhìn chung, tăng trưởng kinh tế được tính bằng phần trăm thay đổi của mức sản lượng quốc dân. gt = Trong đó: gt là tốc độ tăng trưởng kinh tế thời kỳ t. yt là GDP thực tế của thời kỳ t.