CHƯƠNG 1. MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ SUY THOÁI KINH TẾ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA SUY THOÁI ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Lý luận chung về suy thoái kinh tế 1. Khái niệm và phân loại suy thoái kinh tế 1.
Khái niệm suy thoái kinh tế Suy thoái kinh tế được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào quan điểm của các trường phái khác nhau: Trong kinh tế học vĩ mô, suy thoái kinh tế được định nghĩa: “Suy thoái kinh tế là sự suy giảm lượng GDP của một quốc gia, hoặc tăng trưởng âm trong vòng hai quý liên tiếp trở lên trong một năm” [2, Tr301]. Trong đó, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là một chỉ tiểu đo lường tổng giá trị thị trường của tất cả các hàng hoá và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trọng phạm vi lãnh thổ quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) [3, Tr63] Theo quan điểm của cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gia Hoa Kỳ cho rằng: Suy thoái kinh tế là sự tụt giảm hoạt động kinh tế trên cả nước, kéo dài nhiều tháng. Suy thoái kinh tế có thể liên quan sự suy giảm đồng thời của các chỉ số kinh tế của toàn bộ hoạt động kinh tế như : việc làm, đầu tư và lợi nhuận của doanh nghiệp. Các thời kỳ suy thoái có thể đi liền với hạ giá cả (giảm phát), hoặc ngược lại, tăng nhanh giá cả (lạm phát) trong thời kỳ lạm phát.
Sự suy thoái trầm trọng và lâu dài được gọi là khủng hoảng kinh tế. Sự tan vỡ tàn phá kinh tế gọi là sự suy sụp, đổ vỡ kinh tế. Việc suy giảm kinh tế của nhiều quốc gia trong cùng một thời điểm dẫn đến suy thoái kinh tế thế giới. Phân loại suy thoái kinh tế Các nhà kinh tế học miêu tả kiểu suy thoái kinh tế theo hình dáng của đồ thị tăng trưởng theo quý.
Có 4 kiểu suy thoái sau hay được nhắc đến sau: Suy thoái hình chữ V: Đây là kiểu suy thoái mà pha suy thoái ngắn, tốc độ suy thoái lớn; đồng thời, pha phục phồi cũng ngắn và tốc độ phục hồi nhanh; điểm đổi chiều giữa hai pha này rõ ràng. Đây là kiểu suy thoái thường thấy. Ví dụ như trường hợp suy thoái kinh tế ở Hoa Kỳ năm 1953: 15 Luan van Hình 1.1 : Suy thoái kinh tế ở Hoa Kỳ năm 1953. (Nguồn: Trang web http://investstar.com- kiến thức đầu tư) Suy thoái hình chữ U: Đây là kiểu suy thoái mà pha phục hồi xuất hiện rất chậm.
Nền kinh tế sau một thời kỳ suy thoái mạnh tiến sang thời kỳ vất vả để thoát khỏi suy thoái. Trong thời kỳ thoát khỏi suy thoái, có thể có các quý tăng trưởng dương và tăng trưởng âm xen kẽ nhau. Ví dụ như trường hợp suy thoái kinh tế ở Hoa Kỳ trong các năm 1973-1975: Hình 1.2 : suy thoái kinh tế ở Hoa Kỳ trong các năm 1973-1975 (Nguồn: Trang wed http:// investstar.com- kiến thức đầu tư) Suy thoái hình chữ W: Đây là kiểu suy thoái liên tiếp. Nền kinh tế vừa thoát khỏi suy thoái được một thời gian ngắn lại tiếp tục rơi ngay vào suy thoái.
Ví dụ như trường hợp suy thoái kinh tế ở Hoa Kỳ đầu thập niên 1980: 16 Luan van Hình 1.3: Suy thoái kinh tế ở Hoa Kỳ đầu thập niên 1980 (Nguồn: Trang wed http:// investstar.com- kiến thức đầu tư) Suy thoái hình chữ L: Đây là kiểu suy thoái mà nền kinh tế rơi vào suy thoái nghiêm trọng rồi suốt một thời gian dài không thoát khỏi suy thoái. Một số nhà kinh tế gọi tình trạng suy thoái không lối thoát này là khủng hoảng kinh tế. Ví dụ như trường hợp suy thoái kinh tế ở Nhật Bản trong những năm 1990: Hình 1.4: Suy thoái kinh tế ở Nhật Bản trong những năm 1990. (Nguồn: Trang wed http:// investstar.com- kiến thức đầu tư) 1.
Biểu hiện của suy thoái kinh tế - Tốc độ tăng trưởng chậm lại, tổng sản phẩm quốc dân giảm liên tiếp qua các năm - Sức mua của thị trường giảm mạnh, hàng tồn kho của các loại hàng hóa lâu bền trong các doanh nghiệp tăng lên ngoài dự kiến. Việc này dẫn đến nhà sản xuất cắt 17 Luan van giảm sản lượng kéo theo đầu tư vào trang thiết bị, nhà xưởng cũng cắt giảm và kết quả là GDP thực tế tiếp tục giảm sút. - Tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, nhu cầu về lao động giảm, sản xuất đình trệ, đầu tư bị hạn chế, cắt giảm nhân công lao động. - Khi sản lượng giảm thì lạm phát sẽ chậm lại do giá đầu vào của sản xuất giảm bởi nguyên nhân cầu sút kém.
Giá dịch vụ khó giảm nhưng cũng tăng không nhanh trong giai đoạn suy thoái kinh tế. - Lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm mạnh, do nhu cầu giảm làm cho hàng hóa sản xuất ra không tiêu thụ được. Ngân hàng bị ảnh hưởng và khắt khe trong việc cho vay vốn làm cho các doanh nghiệp khó khăn trong vốn kinh doanh, hàng hóa khó tiêu thụ dẫn đến quay vòng vốn chậm. - Các hoạt động đầu tư ngưng trệ và chỉ mang tính chất cầm chừng.
Nguyên nhân của suy thoái kinh tế Những người làm chính sách thống nhất rằng các kỳ suy thoái kinh tế gây ra bởi sự kết hợp của các yếu tố bên trong (nội sinh) theo chu kỳ và các cú sốc từ bên ngoài (ngoại sinh). Những nhà kinh tế học chủ nghĩa Keynes và những lý thuyết gia theo lý thuyết chu kỳ kinh tế cho rằng các yếu tố ngoại sinh như giá dầu, thời tiết, hay chiến tranh có thể tự chúng gây ra suy thoái kinh tế nhất thời, hoặc ngược lại, chúng có thể thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng ngắn hạn. Trường phái Keynes đã giải thích nguyên nhân xảy ra suy thoái kinh tế như sau: khi kinh tế trong thời kỳ ổn định, việc làm và tiêu dùng đểu ở mức cao do sự hiện diện của một quá trình tuần hoàn của tiền tệ trong nền kinh tế. Khi có một lý do nào đó làm người tiêu dùng mất đi sự tin tưởng trên thị trường kinh tế, lo sợ bất ổn kinh tế, họ sẽ cố gắng giảm bớt mọi khoản chi tiêu.
Tình trạng trên diễn ra khiến cho cả nền kinh tế giảm chi tiêu và sản xuất. Nguyên lý Keynes lấy nguyên lý cầu hữu hiệu làm nền tảng, sản lượng là do tổng cầu quyết định. Do đó, vào thời kỳ suy thoái kinh tế, nếu tăng lượng cầu đầu tư vào hàng hóa công cộng (tăng chi tiêu công cộng) thì sản xuất và việc làm sẽ tăng theo, nhờ đó giúp cho nền kinh tế ra khỏi suy thoái. 18 Luan van Hình 1.5: Kinh tế suy thoái do giảm tổng cầu (Nguồn: Kinh tế học vi mô – Robert S.
Pindyck – Nhà xuất bản thống kê ) Hình 1.5 minh họa một sự suy thoái do tổng cầu giảm: tổng cầu dịch chuyển từ AD sang AD’ khiến cho sản lượng giảm từ Y xuống Y’ và giá cả giảm từ P đến P’(giảm phát). Các trường phái theo chủ nghĩa kinh tế tự do mới thì cho rằng sở dĩ có chu kỳ là do sự can thiệp của chính phủ hoặc do những cú sốc cung ngoài dự tính.6: Kinh tế suy thoái do giảm tổng cung (Nguồn: Kinh tế học vi mô – Robert S. Pindyck – Nhà xuất bản thống kê ) Hình 1.6 minh họa trường hợp suy thoái do tổng cung giảm: vì lý do nào đó (ví 19 Luan van dụ giá đầu vào tăng đột biến) tổng cung giảm từ AS xuống AS' khiến cho sản lượng giảm từ Y xuống Y' nhưng giá cả lại tăng từ P lên P’ (lạm phát tăng).Các tác động của suy thoái kinh tế 1. Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến sức mua của nền kinh tế Trong thời kỳ suy thoái, toàn bộ nền kinh tế và doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn nhưng theo kết quả điều tra, có tới gần 58% DN cho rằng khó khăn quan trọng nhất đó là sức mua của thị trường giảm sút một cách nghiêm trọng.
Thu nhập thực tế của người dân thấp hơn rất nhiều so với trước suy thoái. Sức mua của khu vực tư nhân và nhà nước trong thời kỳ suy thoái kinh tế cắt giảm, người dân có xu hướng bớt nhu cầu tiêu dùng hàng hóa cũng như nhu cầu đầu tư do mất niềm tin. Điều này đã làm giảm lượng cầu gây khó khăn cho vấn đề giải quyết đầu ra của DN. Đây có thể còn là tác động lớn nhất của STKT tới tiêu thụ sản phẩm.
Các khó khăn khác mang tính chất nội tại trong DN chỉ chiếm tổng số khoảng hơn 42%. Doanh số bán hàng của doanh nghiệp giảm do người tiêu dùng cắt giảm chi tiêu, cùng với đó là sức mua của thị trường giảm làm cho sản lượng tiêu thụ kém ảnh hưởng đến doanh số bán ra của doanh nghiệp. Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến giá bán hàng hóa Suy thoái kinh tế gây ra những biến động khó lường cho nền kinh tế: khi rơi vào tình trạng lạm phát, khi thì rơi vào tình trạng giảm phát. Vào thời điểm lạm phát giá nguyên vật liệu đầu vào của các doanh nghiệp tăng cao, để đảm bảo lợi nhuận cho các nhà đầu tư và cho cả quá trình tái sản xuất mở rộng, DN phải chịu áp lực không nhỏ là phải tăng giá bán.
Đối với khách hàng, trong thời kỳ kinh tế khó khăn, với nguồn ngân quỹ tăng lên với tốc độ giảm hoặc thấp hơn so với thời kỳ trước. Vì vậy, để có thể bán được hàng hóa, DN phải giảm giá, đây là một áp lực rất lớn. Vào thời điểm giảm phát, lượng cầu suy giảm, giá cả nguyên vật liệu giảm, giá sản phẩm của doanh nghiệp mặc dù giảm song nhu cầu của người tiêu dùng thấp cũng không kích thích doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động kinh doanh. Để giải quyết áp lực về giá bán trong thời kỳ STKT, chiến lược ổn định giá bán được nhiều DN lựa chọn.
Điều này được thể hiện thông qua những chính sách hạn chế điều chỉnh giá bán, cố gắng duy trì ở mức trước thời kỳ suy thoái. Giá bán được điều chỉnh trên cơ sở mức tăng ngân quỹ chi tiêu của khách hàng chứ không phải là lợi 20 Luan van nhuận mục tiêu hay tốc độ tăng của giá cả nguyên liệu đầu vào.Tác động của suy thoái kinh tế đến chi phí sản xuất của doanh nghiệp Suy thoái kinh tế làm cho lãi suất biến động mạnh khó lường trước được, tình trạng nợ xấu tăng cao, nguồn vốn của ngân hàng trở nên hiếm hoi hơn gây khó khăn cho hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp làm cho chi phí vay vốn tăng.