CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Đầu tư doanh nghiệp 1. Khái niệm đầu tư Theo Lưu Thị Hương (2002), đầu tư là hoạt động chủ yếu, quyết định sự phát triển và khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp.
Trong hoạt động đầu tư, doanh nghiệp bỏ vốn dài hạn nhằm hình thành và bổ sung những tài sản cần thiết để thực hiện những mục tiêu kinh doanh. Hoạt động này được thể hiện tập trung thông qua việc thực hiện các dự án đầu tư. Theo Vũ Duy Hào (2016), đầu tư là hoạt động quan trọng của bất kỳ chủ thể nào trong nền kinh tế. Đó là hoạt động bỏ vốn ở hiện tại với hy vọng đạt được lợi ích tài chính, kinh tế xã hội trong tương lai.
Đối với doanh nghiệp, đầu tư được hiểu là hoạt động doanh nghiệp bỏ vốn nhằm hình thành và bổ sung những tài sản cần thiết để thực hiện những mục tiêu kinh doanh. Theo Bùi Hữu Phước (2013), đầu tư là hy sinh giá trị chắc chắn ở hiện tại để đổi lấy giá trị không chắc chắn (nhưng lớn hơn) trong tương lai. Đầu tư thể hiện các doanh nghiệp sử dụng nguồn lực tài chính để định hướng hoạt động trong dài hạn. Doanh nghiệp có thể thực hiện đầu tư thực, đầu tư tài chính, hoặc đầu tư vô hình.
Theo Sachs - Larrain (1993), đầu tư là phần sản lượng được tích lũy để tăng năng lực sản xuất trong thời kỳ sau của nền kinh tế. Sản lượng ở đây bao gồm các phần sản lượng được sản xuất trong nước và nhập khẩu từ nước ngoài. Theo Nickell (1996), Fagerberg và Srholec (2008), đầu tư là hoạt động chủ yếu quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Bất cứ doanh nghiệp nào khi kinh doanh cũng đều phải đầu tư để xây dựng mới hay sửa chữa, thay thế, bổ sung cơ sở vật chất, kỹ thuật như trụ sở, nhà xưởng, máy móc, thiết bị để phục vụ sản xuất kinh doanh, giúp doanh nghiệp tăng trưởng nhanh và bền vững, từ đó giúp phát triển kinh tế.
Theo Nguyễn Thu Thủy (2013), đầu tư là việc bỏ vốn hoặc chi dùng vốn cùng các nguồn lực khác ở hiện tại để tiến hành một hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả có lợi trong tương lai. Nguồn lực đó có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động và trí tuệ. 5 Trong lý thuyết kinh tế học vĩ mô, đầu tư là số tiền mua một đơn vị thời gian của hàng hóa không được tiêu thụ mà được sử dụng cho sản xuất trong tương lai. Ví dụ như xây dựng đường sắt hay nhà máy.
Đầu tư trong vốn con người bao gồm chi phí học bổ sung hoặc đào tạo trong công việc. Đầu tư hàng tồn kho là sự tích tụ của các kho hàng hóa, nó có thể là tích cực hay tiêu cực, và nó có thể có dụng ý hoặc không có dụng ý. Trong tài chính, đầu tư là việc mua một tài sản hay danh mục với hy vọng rằng nó sẽ tạo ra thu nhập hoặc đánh giá cao trong tương lai và được bán với giá cao hơn. Nó thường không bao gồm tiền gửi tại ngân hàng hay tổ chức tương tự.
Thuật ngữ đầu tư thường được sử dụng khi đề cập đến một triển vọng dài hạn. Theo Bùi Xuân Phong (2006), hoạt động đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực về tài chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế. Xuất phát từ phạm vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư, có thể có những cách hiểu khác nhau về đầu tư. Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó.
Nguồn lực có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Các kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ, và nguồn lực. Đầu tư theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó Nhìn chung đầu tư của doanh nghiệp được hiểu là: Đầu tư là hoạt động doanh nghiệp bỏ vốn dài hạn, bao gồm các nguồn lực về tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ nhằm hình thành và bổ sung những tài sản cần thiết để thực hiện những mục tiêu kinh doanh. Phân loại đầu tư Theo Vũ Duy Hào (2016), tùy theo các mục đích khác nhau, có thể phân loại đầu tư của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau: - Theo cơ cấu tài sản đầu tư + Đầu tư tài sản cố định: Đây là các hoạt động đầu tư nhằm mua sắm, cải tạo, mở rộng tài sản cố định của doanh nghiệp.
Đầu tư tài sản cố định thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng đầu tư của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất. Loại đầu tư này bao gồm: đầu tư xây lắp; đầu tư mua sắm máy móc thiết bị; đầu tư tài sản cố định khác. Các tài sản cố định đươc đầu tư có thể là tài sản cố đinh hữu hình hoăc tài sản cố đinh vô hình. + Đầu tư tài sản ngắn hạn: Đây là khoản đầu tư nhằm hình thành các tài sản ngắn hạn cần thiết để đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành bình thường.
Nhu cầu đầu tư tài sản ngắn hạn phụ thuộc vào đặc điểm của hoạt động sản xuất kinh doanh và nhu cầu tăng trưởng của doanh nghiệp. + Đầu tư tài sản tài chính: Các doanh nghiệp có thể đầu tư vào các tài sản tài chính như mua cổ phiếu, trái phiếu hoặc tham gia góp vốn liên doanh với các doanh nghiệp khác. Hoạt động đầu tư tài chính này ngày càng có tỷ trọng cao và mang lại nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp, cả phía đầu tư lẫn phía nhận đầu tư. Phân loại đầu tư theo cơ cấu tài sản đầu tư giúp các nhà quản lý tài chính xây dựng được một kết cấu tài sản thích hợp nhằm đa dạng hóa đầu tư, tận dụng được năng lực sản xuất nói riêng và năng lực hoạt động nói chung, đồng thời nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư.
- Theo mục đích đầu tư: Có thể phân loại đầu tư của doanh nghiệp thành: đầu tư tăng năng lực sản xuất; đầu tư đổi mới sản phẩm; đầu tư đổi mới thiết bị; đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh; đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm; đầu tư mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Việc phân loại này giúp các nhà quản lý tài chính xác định hướng đầu tư và kiểm soát được tình hình đầu tư theo những mục tiêu đã định. - Theo thời hạn đầu tư, có thể phân loại đầu tư của doanh nghiệp ra thành đầu tư ngắn hạn và đầu tư dài hạn. Trong đó, đầu tư dài hạn được hiểu là sự bỏ vốn có tính chất dài hạn.
Vai trò của hoạt động đầu tư Hoạt động đầu tư quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Để tạo dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ doanh nghiệp nào đều cần phải xây dựng nhà xưởng, cơ sở hạ tầng, mua sắm tài sản, trang thiết bị.Do đó đầu tư cho nhà xưởng, máy móc và tài sản cố định là yếu tố đầu tiên cần phải có để hình thành nên các cơ sở sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho các cơ sở này tiến hành hoạt động. Bên cạnh đó, đầu tư giúp mở rộng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, là cơ sở/nền tảng giúp doanh nghiệp tiến tới phát triển bền vững. Bằng cách đầu tư vào nâng cấp công nghệ, tăng cường sản xuất, mở rộng sản phẩm/dịch vụ, hoặc thâm nhập vào các ngành mới, doanh nghiệp có thể thúc đẩy sự đa dạng hóa và phát triển trên nhiều mặt.
Từ đó là nền tảng cho doanh nghiệp trong việc tìm kiếm các cơ hội mới để phát triển. Bằng cách đầu tư vào các dự án tiềm năng, doanh nghiệp có thể mở rộng phạm vi hoạt động, thâm nhập vào các thị trường mới. Nhờ vào việc tìm kiếm và khai thác những cơ hội này, doanh nghiệp có thể tối đa hóa lợi nhuận và củng cố vị thế cạnh tranh trên thị trường. Cuối cùng, danh tiếng của một doanh nghiệp đôi khi phụ thuộc vào hoạt động đầu tư của họ.
Doanh nghiệp không chỉ nhận được những giá trị kinh tế từ các dự án đầu tư thành công mà còn chứng minh được khả năng đánh giá và quản trị dự án của mình. Từ đó tăng uy tín và danh tiếng của doanh nghiệp đối với các nhà đầu tư trên thị trường. Đồng thời, việc thực hiện trách nhiệm xã hội, bảo vệ môi trường và đóng góp vào sự phát triển xã hội thông qua các dự án đầu tư là cơ hội để doanh nghiệp xây dựng hình ảnh tích cực và đạt được lòng tin từ phía khách hàng. Rủi ro địa chính trị 1.
Khái niệm rủi ro địa chính trị * Khái niệm rủi ro Có rất nhiều cách định nghĩa được đưa ra khi nhắc đến “rủi ro”.Willent (1951), “Rủi ro là sự không chắc chắn về tổn thất” hay rủi ro là một tình huống mà ở đó các điều xảy ra không được biết một cách chắc chắn. Bên cạnh đó, cách tiếp cận rủi ro đi kèm với tổn thất cũng được John Haynes (1995) và Irving Pfeffer (1956) chỉ ra khi định nghĩa về rủi ro: “Rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất”. Tuy nhiên khác với 8 các nghiên cứu đi trước, Frank H. Knight (1997) lại tiếp cận khái niệm rủi ro theo một khía cạnh khác khi định nghĩa “Rủi ro là sự không chắc chắn có thể đo lường được”.
Nói tóm lại, rủi ro có thể được hiểu là khả năng xảy ra sự khác biệt giữa kết quả thực tế và kì vọng theo kế hoạch, có khả năng gây ra tổn thất và đem lại những tác động tiêu cực.