chương 1 các vấn đề cơ bản của khóa luận gồm: Lý do chọn đề tài; Mục tiêu nghiên cứu; Câu hỏi nghiên cứu; Phạm vi và đối tượng nghiên cứu; Phương pháp nghiên cứu; Các đóng góp của nghiên cứu; Cấu trúc của đề tài. Khóa luận đã đưa ra những lý do cấp thiết để quyết định thực hiện đề tài “Tác động của quản lý vốn lưu động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ngành sản xuất tại Việt Nam”. Đây là chương đặt nền móng cho những chương tiếp theo của khoá luận. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ VỐN LƯU ĐỘNG 2.1 Khái niệm của quản lý vốn lưu động Với sự bùng nổ NC về vốn lưu động trên toàn cầu, thì hiện nay khái niệm về vốn lưu động không còn là một khái niệm trừu tượng mà nó đã trở thành trợ thủ đắc lực của các DN trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập.
Tương tự, theo Pass và Pike (1984), chênh lệch giữa tài sản lưu động và nợ ngắn hạn được gọi là vốn lưu động. Một định nghĩa khác khi nói về vốn lưu động của Garcia - Teruel và Martinez - Solano (2006), Brigham và Houston (2007), vốn lưu động hay tổng vốn lưu động là tổng tài sản ngắn hạn của DN để tài trợ cho các HĐKD sản xuất hàng ngày của DN. Kim Thoa, Uyên Uyên (2014) định nghĩa theo nghĩa rộng vốn lưu động là giá trị của toàn bộ tài sản ngắn hạn những tài sản gắn với chu kỳ kinh doanh của DN. Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng vốn lưu động có thể hiểu là khoản chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn (tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư có khả năng chuyển đổi nhanh chóng) và nợ ngắn hạn nhằm đáp ứng thường xuyên trong quá trình kinh doanh hằng ngày.
Vốn lưu động có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động của DN. Nếu vốn lưu động của DN dương, đồng nghĩa với nợ ngắn hạn nhỏ hơn tài sản ngắn hạn, các tài sản lưu động của DN có tính thanh khoản cao và chi trả tốt các khoản nợ ngắn hạn; ngược lại, DN có vốn lưu động âm tức là tài sản ngắn hạn nhỏ hơn nợ ngắn hạn, thể hiện tính thanh khoản kém và không có đủ tiền mặt để trả các khoản nợ có thời hạn ngắn Nhưng nếu DN chỉ tập trung vào việc tích lũy vốn lưu động mà không có chiến lược quản lý vốn lưu động thì DN có thể bỏ qua những thời điểm vàng trên thị trường hoặc không lường trước được những thách thức sắp tới mà DN phải đối diện. Tác giả Rehman & Nasr (2007) từng phát biểu rằng quản lý vốn lưu động là một trong những bộ phận rất quan trọng của tài chính DN. 4 Theo Osisioma (1997), Ogundipe và ctg (2012), Hill và cộng sự (2010) đã mô tả hoạt động quản lý vốn lưu động như sau: quản lý vốn lưu động là quá trình quản lý, điều chỉnh cân bằng giữa hai chỉ tiêu là nợ ngắn hạn và tài sản ngắn hạn nhằm đảm bảo các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn của DN.
Quản lý vốn lưu động có thể là tập trung vào việc quản lý các nguồn tài chính và các yếu tố ngắn hạn để duy trì HĐKD hiệu quả. Theo một định nghĩa khác của Van Horne và Wachowicz (2005), quản lý vốn lưu động là việc quản lý các thành phần của tài sản ngắn hạn bằng cách lên kế hoạch và thực hiện các chính sách quản lý vốn lưu động và nợ ngắn hạn. Đặc biệt hơn hết, với bối cảnh nền kinh tế hội nhập và thị trường tài chính càng lúc áp lực càng lớn thì việc quản lý vốn lưu động càng lúc càng quan trọng nhằm tối ưu hóa khả năng thanh khoản và dòng tiền tự do của công ty. Tóm lại, quản lý vốn lưu động là hoạt động quản lý liên quan đến hoạch định và kiểm soát các tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn của DN.
Cụ thể hơn là quản lý các thành phần cấu thành nên tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn.2 Ý nghĩa của quản lý vốn lưu động Quản trị vốn lưu động có ý nghĩa rất quan trọng trong HĐKD của DN, cụ thể như sau: Thứ nhất, quản lý vốn lưu động có ý nghĩa rất quan trọng trong HĐKD của DN. Các DN sẽ phải đối diện với các rủi ro phá sản hoặc giải thể nếu các nhà quản lý không có chính sách quản lý vốn lưu động phù hợp. Thứ hai, quản lý vốn lưu động giúp bảo đảm rằng DN có đủ nguồn lực về tài chính nhằm duy trì các HĐKD hiệu quả. Trong NC của Richard & cộng sự (2013), Osundina (2014), Lawrence (2015) đã chỉ ra rằng quản lý vốn lưu động ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động của DN.
5 Thứ ba, theo NC của Asaduzzaman (2014), DN có thể tối ưu hóa chu kỳ tiền mặt, giảm thiểu thời gian bằng cách quản lý vốn lưu động thông qua hàng tồn kho, công nợ và các khoản phải thu, khoản phải trả,. Thứ tư, quản lý vốn lưu động tốt còn giúp giảm rủi ro về tài chính bằng cách kiểm soát các yếu tố như tồn kho dư thừa, các khoản nợ nhằm đảm bảo DN có khả năng thanh toán và tránh bị phạt lãi suất. Theo Mansoori và Muhammad (2012) mục tiêu chính của quản lý vốn lưu động là đảm bảo DN có đủ dòng tiền để tiếp tục vận hành theo cách tối thiểu hóa rủi ro mất khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Thứ năm, hiệu quả quản trị là rất quan trọng, đặc biệt là đối với các DN sản xuất, nơi phần lớn tài sản bao gồm tài sản lưu động, đặc biệt là hàng tồn kho và các khoản phải thu (Arukmar và Ramanan, 2013).
Reddy & Patkar (2004) từng phát biểu rằng vì TSCĐ rất quan trọng cho việc sản xuất thêm tài sản và doanh thu nên vốn lưu động là rất quan trọng để duy trì hiệu quả hoạt động kinh doanh. Thứ sáu, quản lý vốn lưu động tốt còn giảm chi phí lưu kho và xử lý đơn hàng bằng cách kiểm soát mức tồn kho và giảm thiểu mất mát, hủy hàng tồn kho dư thừa. Ngoài ra, nó còn đáp ứng nhanh chóng đối với biến động thị trường và nhu cầu của khách hàng, tạo điều kiện cho sự phát triển và đầu tư. Tóm lại, quản lý vốn lưu động không chỉ tác động đến hiệu quả hoạt động mà còn gây tác động tới rủi ro, thanh khoản, sự tồn tại của DN.
Vậy nên, quản lý vốn lưu động có vai trò rất quan trọng đối với DN. Tuy nhiên, nên đầu tư vốn lưu động vừa đủ vì nhiều hơn mức cần thiết sẽ làm mất nhiều chi phí cơ hội của đầu tư và chỉ được cung cấp từ nguồn vốn sẵn có của DN là không đủ.3 Đo lường quản lý vốn lưu động Quản trị vốn lưu động có rất nhiều cách đo lường nhưng điểm chung đây là quá trình quản trị các tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn thông qua việc quản trị các thành phần như khoản phải thu, khoản phải trả, hàng tồn kho, chu kỳ luân chuyển tiền,. Tùy vào tình hình, đặc điểm, điều kiện, quy mô cụ thể của từng DN mà các nhà quản trị 6 sẽ thực hiện chính sách quản trị vốn lưu động phù hợp. Quản trị vốn lưu động có vài cách đo lường như sau: 2.1 Vòng quay vốn lưu động Hiệu quả quản lý vốn lưu động được đo lường phổ biển thông qua vòng quay vốn lưu động.
Các nhà NC đã NC về vòng quay vốn lưu động như: Lina Warrad (2013); C. Vòng quay vốn lưu động được tính như sau: 𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 𝑡ℎ𝑢ầ𝑛 𝑉ò𝑛𝑔 𝑞𝑢𝑎𝑦 𝑣ố𝑛 𝑙ư𝑢 độ𝑛𝑔 = 𝑇à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑙ư𝑢 độ𝑛𝑔 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛−𝑁ợ 𝑛𝑔ắ𝑛 ℎạ𝑛 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 Lina Warrad (2013) định nghĩa rằng vòng quay vốn lưu động là thước đo hiệu quả của DN trong việc tạo ra doanh thu từ vốn lưu động. Nói cách khác, nó thể hiện số tiền doanh thu thu được từ mỗi đồng vốn lưu động. Chỉ số này cao cho thấy DN hoạt động hiệu quả, tận dụng tốt vốn lưu động để tạo ra doanh thu.
Khả năng quản lý và dự trù tài sản lưu động phù hợp sẽ góp phần tăng hiệu quả hoạt động. Ngược lại, vòng quay vốn lưu động thấp cho thấy DN gặp vấn đề trong quản lý vốn, dẫn đến doanh thu thấp. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng vòng quay vốn lưu động quá cao cũng tiềm ẩn nguy cơ thiếu hụt vốn lưu động, gây khó khăn cho DN khi cần chi trả các khoản chi phí đột xuất. Tóm lại, vòng quay vốn lưu động là một chỉ số quan trọng giúp đánh giá hiệu quả hoạt động của DN.
Việc theo dõi và phân tích chỉ số này giúp DN đưa ra quyết định quản lý vốn lưu động hợp lý, đảm bảo HĐKD hiệu quả và bền vững.2 Vòng quay hàng tồn kho Nghiên cứu của Abidatul Khoiroh, Alkusani, Wasti Reviandani (2022) đã sử dụng chỉ số vòng quay hàng tồn kho trong NC của mình để đánh giá hiệu quả của việc quản lý vốn lưu động. Công thức được tính như sau: 7 𝐺𝑖á 𝑣ố𝑛 ℎà𝑛𝑔 𝑏á𝑛 𝑉ò𝑛𝑔 𝑞𝑢𝑎𝑦 ℎà𝑛𝑔 𝑡ồ𝑛 𝑘ℎ𝑜 = 𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị ℎà𝑛𝑔 𝑡ồ𝑛 𝑘ℎ𝑜 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 Vòng quay hàng tồn kho là thước đo số tốc độ luân chuyển hàng hóa trong kho trong một khoảng thời gian nhất định. Nói cách khác, nó cho biết số lần hàng hóa được nhập vào và xuất khỏi kho trong giai đoạn đó. Điều này dẫn đến nhiều hệ quả tiêu cực như: Tăng chi phí lưu kho bao gồm chi phí bảo quản, quản lý, hao hụt,.
Nguy cơ lỗi thời: Hàng hóa tồn kho lâu có thể bị lỗi thời, mất giá trị sử dụng,. Thiếu hụt vốn lưu động: Do hàng hóa ứ đọng trong kho, DN sẽ thiếu vốn để đầu tư vào các HĐKD khác. Ngược lại, chỉ tiêu này cao cho thấy DN sẽ giảm chi phí lưu kho do thời gian lưu kho ngắn, chi phí bảo quản, quản lý, hao hụt cũng sẽ giảm, tăng khả năng thanh khoản, đầu tư vào các hoạt động kinh doanh khác, tăng lợi nhuận. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng nếu chỉ tiêu này quá cao cũng có thể dẫn đến một số rủi ro như: Thiếu hụt hàng hóa, tăng chi phí vận chuyển do phải nhập hàng thường xuyên, chi phí vận chuyển cũng sẽ tăng lên.
Do đó, DN cần cân nhắc kỹ lưỡng để xác định mức độ vòng quay hàng tồn kho hợp lý, đảm bảo vừa hiệu quả vừa an toàn. Ngoài ra, cần so sánh với các DN cùng ngành để có đánh giá chính xác hơn. Tóm lại, vòng quay hàng tồn kho là chỉ số quan trọng giúp đánh giá quản lý vốn lưu động.