Phân Hóa Giàu Nghèo Và Ảnh Hưởng Đến Xây Dựng Khối Đại Đoàn Kết Toàn Dân Tộc Tại Việt Nam

Luận án tiến sĩ kỹ thuật nghiên cứu tác động của phân hóa giàu nghèo đến xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở việt nam hiện nay, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý

Trường đại học

Học Viện Chính Trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

219
10
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài có liên quan đến đề tài luận án

1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến đề tài luận án

1.3. Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan và những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA PHÂN HÓA GIÀU - NGHÈO ĐẾN XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC Ở VIỆT NAM

2.1. Phân hóa giàu - nghèo và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam

2.2. Quan niệm, nội dung và tính quy luật tác động của phân hóa giàu - nghèo đến xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA PHÂN HÓA GIÀU - NGHÈO ĐẾN XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA HIỆN NAY

3.1. Thực trạng tác động của phân hóa giàu - nghèo đến xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam hiện nay

3.2. Nguyên nhân và một số vấn đề đặt ra cần phải giải quyết hiện nay

4. CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT TÁC ĐỘNG CỦA PHÂN HÓA GIÀU - NGHÈO ĐẾN XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

4.1. Định hướng giải quyết tác động của phân hóa giàu - nghèo đến xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam hiện nay

4.2. Giải pháp giải quyết tác động của phân hóa giàu - nghèo đến xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam hiện nay

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Phân hóa giàu nghèo và khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Phân hóa giàu nghèo là hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến trong quá trình phát triển, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng XHCN. Hiện tượng này tác động mạnh mẽ đến việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, một yếu tố then chốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phân hóa giàu nghèo không chỉ làm gia tăng khoảng cách kinh tế mà còn ảnh hưởng đến sự thống nhất chính trị - tư tưởng, gây ra những thách thức lớn trong việc duy trì sự ổn định xã hội.

1.1. Tác động tích cực của phân hóa giàu nghèo

Một mặt, phân hóa giàu nghèo tạo động lực phát triển kinh tế, thúc đẩy sự nỗ lực vươn lên của các tầng lớp dân cư. Những cá nhân, gia đình có điều kiện kinh tế tốt hơn có thể đóng góp tích cực vào các hoạt động xã hội, từ đó góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đồng thời, sự phân hóa cũng tạo ra cơ hội để mở rộng các hình thức liên kết, gắn bó giữa các nhóm xã hội khác nhau.

1.2. Tác động tiêu cực của phân hóa giàu nghèo

Mặt khác, phân hóa giàu nghèo gây ra sự chia rẽ trong cơ cấu xã hội, làm suy yếu sự thống nhất chính trị - tư tưởng. Khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn tạo điều kiện cho các thế lực thù địch lợi dụng, kích động mâu thuẫn nội bộ, đe dọa sự ổn định của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có các giải pháp hiệu quả để kiểm soát và giảm thiểu tác động tiêu cực của hiện tượng này.

II. Thực trạng tác động của phân hóa giàu nghèo tại Việt Nam

Tại Việt Nam, phân hóa giàu nghèo đã trở thành một vấn đề nổi cộm trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN. Mặc dù đạt được nhiều thành tựu kinh tế - xã hội, khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng, đặc biệt ở các khu vực đô thị lớn và vùng nông thôn. Điều này tác động đa chiều đến việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt từ phía Đảng và Nhà nước.

2.1. Thực trạng phân hóa giàu nghèo

Theo các nghiên cứu, phân hóa giàu nghèo tại Việt Nam diễn ra mạnh mẽ ở cả thành thị và nông thôn. Các thành phố lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng có mức độ phân hóa sâu sắc, trong khi các tỉnh miền núi và Tây Nguyên cũng chịu ảnh hưởng nặng nề. Sự chênh lệch về thu nhập, điều kiện sống và cơ hội phát triển đã tạo ra những bất bình đẳng xã hội, ảnh hưởng đến sự đoàn kết giữa các tầng lớp dân cư.

2.2. Tác động đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Phân hóa giàu nghèo đã gây ra những thách thức lớn trong việc duy trì khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Sự phân tách xã hội làm suy yếu niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước, tạo điều kiện cho các thế lực thù địch lợi dụng, kích động mâu thuẫn. Điều này đòi hỏi các giải pháp đồng bộ để giảm thiểu tác động tiêu cực, củng cố sự thống nhất và đoàn kết toàn dân.

III. Giải pháp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Để giải quyết tác động của phân hóa giàu nghèo đến việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cần có các giải pháp toàn diện, từ chính sách kinh tế đến các biện pháp xã hội. Mục tiêu là đảm bảo công bằng xã hội, giảm thiểu khoảng cách giàu nghèo, và tăng cường sự đoàn kết giữa các tầng lớp dân cư.

3.1. Định hướng chính sách

Các chính sách kinh tế - xã hội cần tập trung vào việc giảm nghèo, tạo cơ hội phát triển bình đẳng cho mọi người dân. Điều này bao gồm việc cải thiện hệ thống giáo dục, y tế, và tạo việc làm ổn định. Đồng thời, cần tăng cường các chương trình hỗ trợ xã hội, đặc biệt là ở các vùng khó khăn, để đảm bảo sự phát triển đồng đều trên cả nước.

3.2. Tăng cường đoàn kết xã hội

Việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc cần được thực hiện thông qua các hoạt động văn hóa, giáo dục, và tuyên truyền. Cần khơi dậy tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái trong cộng đồng, đồng thời tăng cường đối thoại xã hội để giải quyết các mâu thuẫn, bất đồng. Điều này sẽ góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài có liên quan đến đề tài luận án 1. Nhóm công trình khoa học tiêu biểu nghiên cứu về phân hóa giàu - nghèo Hướng nghiên cứu về thực trạng PHGN, tiêu biểu có các công trình: Fumio Ohtake (2008), Inequality in Japan (Bất bình đẳng ở Nhật Bản) [159]. Trong công trình này, tác giả đã mô tả tình trạng bất bình đẳng thu nhập hiện nay ở Nhật Bản và đưa ra những phân tích về cách mà người dân Nhật Bản nhìn nhận về vấn đề bất bình đẳng thu nhập.

Theo tác giả, “Một phần tư những người được khảo sát năm 2005 có quan điểm cho rằng mong muốn của họ về việc phân phối thu nhập và tài sản một cách bình đẳng vẫn chưa được đáp ứng” [159, tr. Phần lớn người Nhật có quan niệm tiêu cực về chênh lệch thu nhập vì họ cho rằng nó bị ảnh hưởng bởi tài năng, nền tảng học vấn hoặc may mắn. Sandip Sarkar and Balwant Singh Mehta (2010), Income Inequality in India: Pre- and Post-Reform Periods (Bất bình đẳng thu nhập ở Ấn Độ: Giai đoạn trước và sau cải cách) [165]. Trong bài viết này, các tác giả đã tập trung phân tích về sự gia tăng bất bình đẳng thu nhập ở Ấn Độ từ sau cải cách kinh tế theo hướng tự do hóa (1991) đến năm 2005.

Các tác giả chỉ ra: “Ngay cả khi mức tăng trưởng bình quân đầu người tăng gấp đôi trong thập kỷ sau cải cách, tỷ lệ giảm nghèo vẫn ít hơn một phần tư so với thập kỷ trước cải cách” [165, tr. Như vậy, ở Ấn Độ, tốc độ tăng trưởng kinh tế không song hành với tốc độ giảm nghèo, làm cho tình trạng PHGN gia tăng nhanh. Cuốn sách đã tập trung phân tích sự giàu có và bất bình đẳng thu nhập ở Châu Âu và Hoa Kỳ kể từ thế kỷ 18 đến nay. Luận 12 điểm trọng tâm của cuốn sách là bất bình đẳng không phải là một tai nạn, mà là một đặc điểm của chủ nghĩa tư bản, và chỉ có thể được đảo ngược thông qua sự can thiệp của nhà nước.

Các tác giả của cuốn sách cho rằng: “Thế giới ngày nay đang quay trở lại với “chủ nghĩa tư bản gia trưởng”, trong đó phần lớn nền kinh tế bị chi phối bởi của cải được thừa kế: quyền lực của tầng lớp kinh tế này ngày càng gia tăng, có nguy cơ tạo ra chế độ độc tài” [161, tr. Cuốn sách chỉ ra thực trạng về tình trạng bất bình đẳng thu nhập và sự gia tăng khoảng cách giàu - nghèo trong các nước OECD (Các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế). Tác giả nêu rõ: “Một phần tư thế kỷ trước, thu nhập trung bình của 10% người giàu nhất ở các nước OECD cao hơn khoảng bảy lần so với 10% người nghèo nhất; ngày nay, khoảng cách ấy đã tăng lên 45 lần. Nhiều người lo ngại khoảng cách ngày càng mở rộng này đang làm tổn hại đến các cá nhân, xã hội và thậm chí cả nền kinh tế” [154, tr.

Terry Sicular, Shi Li, Ximing Yue, Hiroshi Sato (2020), Changing Trends in China’s Inequality: Evidence, Analysis, and Prospects (Xu hướng thay đổi sự bất bình đẳng ở Trung Quốc: Bằng chứng, phân tích và triển vọng) [167]. Cuốn sách khẳng định, trong một phần tư thế kỷ qua, Trung Quốc đã chứng kiến sự gia tăng đáng kể về bất bình đẳng thu nhập, thúc đẩy sự thay đổi trong chiến lược phát triển của Trung Quốc. Các bài luận cụ thể đưa ra các phân tích về sự bất bình đẳng giàu - nghèo của Trung Quốc, sự xuất hiện của một tầng lớp trung lưu mới, chênh lệch thu nhập giữa đa số người Hán và các dân tộc thiểu số, chênh lệch lương theo giới và tác động của các chính sách của chính phủ như các chương trình phúc lợi xã hội và mức lương tối thiểu. Hướng nghiên cứu về nguồn gốc, bản chất, hệ quả của PHGN, tiêu biểu có các công trình: Hans Heinrich Gerth và Charles Wright Mills (1958), From Max Weber: Essays in Sociology (Từ Max Weber: Các bài luận về xã hội học) [152].

Trong 13 cuốn sách này, Gerth và Mills đã tập hợp, biên tập, giới thiệu các công trình nghiên cứu của Max Weber (1864 - 1920) - nhà xã hội học người Đức cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Trong các công trình của mình, Max Weber cho rằng, có hai hình thức phân tầng xã hội về mặt kinh tế: Thứ nhất là sự phân tầng xã hội thành các giai cấp khác nhau về sở hữu tài sản, ví dụ như giai cấp tư sản và giai cấp vô sản; Thứ hai là sự phân tầng xã hội thành các giai cấp khác nhau về thu nhập, ví dụ như giai cấp thượng lưu - giàu có và giai cấp hạ lưu - nghèo khổ. Hai tháp phân tầng này không hoàn toàn trùng khít nhau mà đan xen, tương tác, chuyển hóa cho nhau. Weber viết: “Người ta cần phải phân biệt “các giai cấp tài sản” với “các giai cấp thu nhập” bị quy định trước hết bởi thị trường.

Xã hội hiện nay chủ yếu bị phân tầng thành các giai cấp, và với mức độ đặc biệt cao là thành các giai cấp thu nhập” [152, tr. Trong cuốn sách này, tác giả đi tìm câu trả lời cho hàng loạt câu hỏi đang được đặt ra trong xã hội Mỹ những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI: Bất bình đẳng thu nhập là gì? Nó liên quan như thế nào đến nghèo đói? Nguyên nhân của sự gia tăng thu nhập và bất bình đẳng tiền lương là gì? Tác giả cho rằng: “Mỹ là nền kinh tế lớn nhất và mạnh nhất thế giới. Song bên dưới vỏ bọc tăng trưởng, được thể hiện thông qua sự sôi động của thị trường chứng khoán, gia tăng thu nhập và giảm thất nghiệp là một mối lo dai dẳng có thể đe dọa đến “sức khỏe” của nền kinh tế Mỹ, đó chính là vấn đề bất bình đẳng thu nhập, phân hóa giàu - nghèo” [xem 164, tr. Karen Rowlingson và Stephen McKay (2011), Wealth and the wealthy: Exploring and tackling inequalities between rich and poor (Sự giàu có và người giàu: Khám phá và giải quyết sự bất bình đẳng giữa người giàu và người nghèo) [163].

Trong cuốn sách, các tác giả cho rằng: “Những người có thu nhập thấp nhất ít có khả năng tích lũy tài sản nhất, và nếu có, họ sẽ có nhiều khả năng trở thành nạn nhân nhất khi rủi ro dẫn đến những tác động bất lợi” [163, tr. Trong cuốn sách này, Seligson đã giới thiệu bài viết của nhiều học giả khác nhau nghiên cứu về vấn đề PHGN giữa các quốc gia. Ông chỉ ra rằng: “Hậu quả của việc nới rộng khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia có thể được chứng kiến hàng ngày. Trên trường quốc tế, căng thẳng giữa nước giàu và nước nghèo chiếm một phần không nhỏ trong các cuộc tranh luận tại Liên Hiệp quốc và các diễn đàn quốc tế khác.

Các nước nghèo yêu cầu một “trật tự kinh tế quốc tế mới” (NIEO), điều mà họ hy vọng sẽ có sự chuyển dịch của cải ra khỏi các nước giàu. Ngược lại, các nước công nghiệp hóa đã đáp lại bằng các chương trình viện trợ nước ngoài mà xét về mọi mặt chỉ làm gia tăng thêm khoảng cách giàu nghèo” [166, tr. Nhóm công trình khoa học tiêu biểu nghiên cứu về đoàn kết dân tộc, đoàn kết xã hội Hướng nghiên cứu về thực trạng đoàn kết dân tộc, đoàn kết xã hội, tiêu biểu có công trình: Samuel L. Bài viết trình bày sự đa dạng sắc tộc, sự thống nhất quốc gia và nền giáo dục đa văn hóa ở Trung Quốc.

Tác giả cho rằng: “Hiện nay, Trung Quốc đang phải đối mặt với một số thách thức, bao gồm ô nhiễm, bất bình đẳng thu nhập ngày càng tăng và và sự thờ ơ với chính trị của một bộ phận công dân. Những điều này đe dọa sự ổn định xã hội” [153, tr. Bài viết chỉ ra rằng, giáo dục đa văn hóa có thể cung cấp một khuôn khổ để giải quyết những bất bình đẳng về xã hội, kinh tế, chính trị và giáo dục ở Trung Quốc hiện nay. Libby Mae Grammer (2017), Undocumented Immigration through Feminist Christian Ethics (Nhập cư không có giấy tờ thông qua Đạo đức Cơ 15 đốc Nữ quyền) [151].

Cuốn sách bàn về vấn đề hòa nhập và đoàn kết xã hội giữa người bản địa và người nhập cư trong xã hội Mỹ. Tác giả chỉ ra một thực tế đáng chú ý ở Mỹ: “Những người nhập cư không có giấy tờ hợp lệ đang có cuộc sống bị gạt ra ngoài lề của xã hội và bị áp bức, bởi cả chính sách nhập cư của Chính phủ và văn hóa của xã hội Hoa Kỳ, vốn bao gồm chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và bài ngoại có hệ thống” [151, tr. Cuốn sách tập trung so sánh quá trình hình thành chủ nghĩa dân tộc như là một yếu tố chính để thúc đẩy đoàn kết, thống nhất dân tộc ở Nhật Bản trước chiến tranh thế giới lần thứ hai và Trung Quốc trong giai đoạn hiện nay. Trước chiến tranh thế giới thứ hai, trong suốt nửa đầu thế kỷ XX, Nhật Bản là một quốc gia có lực lượng quân sự hùng hậu, nền kinh tế đang phát triển và bản sắc dân tộc độc đáo.

Trung Quốc đương đại thể hiện những đặc điểm tương tự trong phần đầu của thế kỷ XXI. Văn hóa, ngôn ngữ, địa lý, lực lượng quân sự, kinh tế và tôn giáo… là những yếu tố chính thường được các học giả coi là nguồn gốc để đoàn kết mọi người dân dưới ngọn cờ của chủ nghĩa dân tộc. Trong cuốn sách, tác giả đã làm rõ sự chuyển đổi của các dịch vụ công ở Nam Phi thời kỳ hậu phân biệt chủng tộc và tác động của quá trình tư nhân hóa ở ba thành phố: Johannesburg, Ekurhuleni và Cape Town. Cuốn sách cung cấp những hiểu biết sâu sắc về thế giới đang thay đổi của công việc ở các thành phố; cuộc đấu tranh của những người lao động bấp bênh và rộng hơn, về động lực lao động của Nam Phi đương đại.

16 Hướng nghiên cứu về nguồn gốc, bản chất và các yếu tố ảnh hưởng đến đoàn kết dân tộc, đoàn kết xã hội, tiêu biểu có các công trình: Hauke Brunkhorst (2005), Solidarity: From Civic Friendship To A Global Legal Community (Đoàn kết: Từ tình bạn công dân đến cộng đồng pháp lý toàn cầu ) [148]. Trong cuốn sách này, Hauke Brunkhorst đưa ra khái niệm “đoàn kết dân chủ”, giải thích về mối liên kết giữa các công dân tự do và bình đẳng. Tác giả phân tích sự hiện đại hóa của các xã hội phương Tây và sự phá hủy các khối thống nhất thứ bậc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ