CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. Bối cảnh chính sách Trong quá trình phát triển, con người đã nghĩ ra nhiều cách thức để giải quyết các nhu cầu của mình nhưng đồng thời lại làm nảy sinh ra những vấn đề mới cần phải giải quyết. “Người Châu Âu dùng lò sưởi ấm trong nhà đã tạo ra tình trạng ô nhiễm khí trong nhà. Con người trên khắp thế giới lấy nước từ các nguồn mà tại các nguồn này súc vật cũng uống hoặc tắm trực tiếp và cũng là nơi tiếp nhận đủ các loại chất thải khác.
Họ đang sử dụng và uống nước bị ô nhiễm. Ngay từ những năm 1970, cuốn Giới hạn tăng trưởng của Meadon và cộng sự (1974) (trích trong DeGregori, 1985) theo đã chỉ ra dân số, công nghiệp hóa, ô nhiễm là ba nhân tố hàng đầu làm chậm quá trình tăng trưởng của nhân loại trong vòng 100 năm tới. Mô hình tăng trưởng mới mà Ngân hàng Thế giới (WB) đang kêu gọi các nước đi theo là tăng trưởng xanh. Tức là tăng trưởng gắn với bảo vệ môi trường và tạo ra một môi trường sống tốt hơn cho con người.
Cái giá của tăng trưởng không đi kèm với bảo vệ môi trường đến sức khỏe của người dân và sự phát triển nói chung của cộng đồng đã được minh chứng rất rõ qua trường hợp của Trung Quốc. Matus và cộng sự (2011) cho rằng tác động biên của ô nhiễm không khí đến phúc lợi của nền kinh tế Trung Quốc tăng từ 22 tỷ USD vào năm 1975 lên 112 tỷ USD vào năm 2005 (giá so sánh năm 1997). Chen và cộng sự (2013) chỉ ra rằng số dân sống tại phía bắc Trung Quốc là 500 triệu người đã bị giảm 2,5 tỷ năm sống do tác động của ô nhiễm không khí trong một thập kỷ (1990-2000). Mặt trái của quá trình tăng trưởng là các vấn đề về môi trường cũng đang hiện diện ở Việt Nam.
Việt Nam đang nổi lên như một trong những nước tăng trưởng ấn tượng trong khu vực và thế giới. Phía sau tăng trưởng nhanh là vấn đề ô nhiễm ngày càng trở nên trầm trọng. Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), phần lớn các dòng sông chảy qua các khu công nghiệp và khu đô thị đều chứa hàm lượng chất hữu cơ cao hơn 2-3 lần tiêu chuẩn cho phép. Ô nhiễm không khí tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề, ô nhiễm khói mù do đốt rơm rạ ở khu vực nông thôn cũng ngày càng trở lên nghiêm trọng (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2014).
Đặng Ngọc Chánh và cộng sự (2012), Ngô Thị Hiền và cộng sự (2012), Phương Anh (2014) đã chỉ ra tác động tiêu cực ô nhiễm môi trường ở làng nghề thủ công nghiệp và khu công nghiệp đến sức khỏe người dân. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -2- Đời sống của người dân nông thôn cũng được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây. Kết quả này có được là nhờ thành quả của các chính sách trong sản xuất nông nghiệp, kết hợp với phát huy các làng nghề thủ công nghiệp và sự mọc lên như nấm của các khu công nghiệp ven đô, do đó thu hút một lực lượng lao động đông đảo lao động phổ thông ở nông thôn. Sản xuất nông nghiệp với năng suất cao nhưng đi kèm với việc sử dụng thêm nhiều phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật.
Các làng nghề thủ công tạo ra thu nhập ổn định và cao hơn nghề nông nghiệp, nhưng cũng đồng thời tạo ra các chất gây ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất. Các khu công nghiệp cũng tạo ra chất thải đưa vào không khí hoặc theo dòng chảy của các kênh mương phân tán đi xa. Kiểm chứng tình trạng khám chữa bệnh của người dân có phụ thuộc vào sự xuất hiện của các nguồn chất thải trên hay không là minh chứng rất rõ cho mặt trái của quá trình phát triển. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu Mục tiêu chính của luận văn là xem xét sự xuất hiện các nguồn chất thải công nghiệp, chất thải làng nghề và dư chất trong nông nghiệp có tác động đến tình trạng khám chữa bệnh của người dân hay không.
Tình trạng khám chữa bệnh được thể hiện bằng xác suất đi khám chữa bệnh, số lần đi khám chữa bệnh và chi phí cho đi khám chữa bệnh của người dân. Do vậy, luận văn tập trung vào bốn câu hỏi sau: - Thứ nhất, sự xuất hiện của các nguồn chất thải quanh khu vực sinh sống tác động như thế nào đến xác suất và số lần đi khám chữa bệnh hàng năm của người dân? - Thứ hai, sự xuất hiện của các nguồn chất thải tác động như thế nào đến chi phí khám chữa bệnh hàng năm của người dân? - Thứ ba, nhóm người nào chịu tác động nhiều nhất khi có sự xuất hiện của các nguồn chất thải? - Thứ tư, chính phủ nên có chính sách gì để giảm bớt tác động của các nguồn chất thải đến phúc lợi của người dân? 1. Phương pháp nghiên cứu Bài viết sử dụng phương pháp định lượng với các mô hình ước lượng khác nhau cho từng câu hỏi. Với câu hỏi thứ nhất, hai mô hình được sử dụng là mô hình Logit và Poisson.
Mô hình Logit dùng để ước lượng xác suất đi khám chữa bệnh của người dân. Mô hình Poisson LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -3- là mô hình giải thích số lần khám chữa bệnh trong một năm. Câu hỏi thứ hai sẽ được trả lời dựa vào một mô hình hồi quy (tuyến tính hoặc phi tuyến) với biến phụ thuộc là biến chi phí khám chữa bệnh. Sau đó, nghiên cứu tính toán chi phí tăng thêm khám chữa bệnh tăng thêm một năm khi phơi nhiễm với các nguồn chất thải.
Kết quả ước lượng của ba mô hình sẽ là căn cứ để trả lời câu hỏi thứ ba và thứ tư. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của luận văn Đề tài nghiên cứu tình trạng khám chữa bệnh của người dân ở nông thôn trên phạm vi cả nước từ năm 2006 đến năm 2012. Chọn khu vực nghiên cứu là nông thôn sẽ loại bỏ được những tác động của nhân tố xã hội là đô thị hóa (mật độ cao của phương tiện giao thông gây ô nhiễm không khí từ khí thải xe, hoặc ô nhiễm do chất thải sinh hoạt đô thị với mật độ dân cư quá cao) đến sức khỏe của người dân. Tác động của môi trường đến sức khỏe có tính dài hạn nên nghiên cứu sử dụng dữ liệu nhiều năm thay vì dữ liệu một năm.
Kết cấu của luận văn Luận văn được chia thành năm chương. Sau Chương Giới thiệu, Chương 2 sẽ trình bày các lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Chương 3 giới thiệu mô hình nghiên cứu và số liệu. Chương tiếp theo sẽ trình bày về kết quả mô hình định lượng.
Chương cuối tổng hợp lại các kết quả nghiên cứu chính và hàm ý chính sách. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -4- CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Ô nhiễm môi trường2 Theo định luật bảo toàn năng lượng và nguyên lý entropy của nhiệt động lực học, chất thải là một sản phẩm tất yếu của hoạt động sản xuất. Quá trình sản xuất làm biến đổi các vật chất (nhân tố) đầu vào cho ra sản phẩm và kèm theo là chất thải (Hình 2.
Dòng vật chất biến đổi trong hệ thống Sản phẩm Dòng vật chất đi vào hệ Quá trình biến Chất thải thống đổi Chất tái chế Nguồn: Võ Đình Long và cộng sự (2012). Chất thải được đưa ra môi trường đến một nồng độ nhất định sẽ gây ra tác động tiêu cực. Lượng chất thải thông thường ở mức độ vừa phải, môi trường tự nhiên sẽ hấp thụ mà không phát sinh các vấn đề về môi trường. Tuy nhiên, năng lực đồng hóa của môi trường sẽ không tồn tại với lượng chất thải lớn (dư lượng phân bón hóa học lớn, lượng bụi lớn từ hoạt động của làng nghề) và những chất thải (chất ô nhiễm) dai dẳng như thuốc trừ sâu DDT, thủy ngân, chất phóng xạ.
Nồng độ chất thải vượt quá mức một ngưỡng nhất định sẽ làm cho chất lượng môi trường suy giảm và tính trạng ô nhiễm môi trường diễn ra. Trong Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam năm 2005 chia ra ba cấp độ của ô nhiễm môi trường: Môi trường bị ô nhiễm, môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, môi trường bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng. Các chất thải đặc trưng gây ô nhiễm không khí ở Việt Nam bao gồm SO2, CO, NO2, hạt bụi mịn lơ lửng (PM10, PM2,5), hợp chất hữu cơ bay hơi và chì (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2007). Tác động của chất thải tới sức khỏe của người dân Chất thải (chất gây ô nhiễm) ảnh hưởng tới cuộc sống của người dân phụ thuộc vào các nhân tố như: môi trường trung gian, khả năng tiếp xúc, liều lượng tiếp xúc.
Môi trường 2 Các Phần 2.3 của Chương 2 được soạn theo Hussen (2004), Tietenberg và cộng sự (2011). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -5- trung gian có thể là ô nhiễm nước hoặc không khí (khí thải, bụi) hoặc tiếng ồn. Khả năng tiếp xúc với chất thải phụ thuộc vào khoảng cách giữa nguồn chất thải và khu dân cư vì mỗi chất thải có thời gian phát tán và phạm vi phát tán khác nhau (Bảng P1. Từ phơi nhiễm đến phát bệnh sẽ phụ thuộc vào liều lượng tiếp xúc và khả năng chống chịu của từng người dân.
Hàm liều lượng và phản ứng (dose-response function) minh họa cho tác động của nồng độ chất thải đến sức khỏe con người (Hình 2. Hàm liều lượng và phản ứng (dose-response function-DRF) Nguồn: Rizwan (2009). Hàm DRF thể hiện xác suất mắc bệnh của người dân khi tiếp xúc với nồng độ chất thải. Người dân có thể không bị mắc bệnh nếu chỉ tiếp xúc với chất thải ở nồng độ thấp.
Khi nồng độ chất thải tiếp xúc tăng lên vượt quá một ngưỡng nhất định, xác suất mắc bệnh tăng lên nhanh. Ngưỡng trong hình vẽ phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của người dân tại thời điểm tiếp xúc. Tình trạng sức khỏe và nồng độ tiếp xúc dẫn đến rủi ro sức khỏe cho từng cá nhân khác nhau.3 chỉ ra rủi ro sức khỏe khi tiếp xúc với chất thải trong không khí. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.