Khóa luận tốt nghiệp kế toán kiểm toán ảnh hưởng của nữ giới trong ban lãnh đạo đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết tại việt nam

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp kế toán kiểm toán ảnh hưởng của nữ giới trong ban lãnh đạo đến hiệu quả hoạt động của, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải pháp

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Kế toán - Kiểm toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận

2023

113
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan về tác động của nữ thành viên trong ban lãnh đạo đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết

1.2. Khoảng trống nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

2.1. Lý thuyết đại diện. Lý thuyết về phụ thuộc nguồn lực

2.2. Một số lý thuyết về hiệu quả hoạt động doanh nghiệp

2.2.1. Khái niệm hiệu quả hoạt động doanh nghiệp

2.2.2. Chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động doanh nghiệp

2.2.3. Các giả thuyết nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp

3. CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Quy trình nghiên cứu

3.2. Tổng hợp giả thuyết nghiên cứu. Xây dựng mô hình đề xuất

3.3. Thu thập và xử lý dữ liệu. Thực hiện và kiểm định mô hình

4. CHƯƠNG 4: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thực trạng hiệu quả hoạt động doanh nghiệp của các công ty niêm yết tại Việt Nam

4.2. Hiệu quả hoạt động của công ty niêm yết trước khi xuất hiện Covid-19

4.3. Hiệu quả hoạt động của công ty niêm yết sau khi xuất hiện Covid-19

4.4. Tỷ lệ nữ thành viên tham gia vào ban lãnh đạo

4.5. Những khó khăn của nữ giới để đạt được vị trí quản lý cấp cao

4.6. Kết quả nghiên cứu

4.6.1. Thống kê mô tả

4.6.2. Phân tích mối tương quan

4.6.3. Kết quả phương trình hồi quy

5. CHƯƠNG 5: KHUYẾN NGHỊ CHO CÁC BÊN LIÊN QUAN

5.1. Khuyến nghị đối với các Doanh nghiệp niêm yết

5.2. Khuyến nghị đối với Nhà nước

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1. Thống kê mô tả các biến

Phụ lục 2. Ma trận hệ số

Phụ lục 3. Kết quả hồi quy mô hình biến phụ thuộc Tobin’s Q

Phụ lục 4. Kết quả hồi quy GLS

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động của nữ giới trong ban lãnh đạo đến hiệu quả doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam

Nữ giới ngày càng đóng vai trò quan trọng trong ban lãnh đạo của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam. Nghiên cứu cho thấy sự hiện diện của phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo không chỉ mang lại sự đa dạng mà còn cải thiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Theo báo cáo của VCCI, tỷ lệ doanh nghiệp có nữ lãnh đạo đã tăng đáng kể trong những năm qua, cho thấy sự thay đổi tích cực trong nhận thức về vai trò của phụ nữ trong kinh doanh.

1.1. Định nghĩa và vai trò của nữ giới trong ban lãnh đạo

Nữ giới trong ban lãnh đạo được định nghĩa là những người phụ nữ đảm nhận các vị trí quản lý cấp cao trong doanh nghiệp. Họ không chỉ là đại diện cho sự đa dạng mà còn mang lại những quan điểm và cách tiếp cận khác biệt trong quản lý, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động.

1.2. Tình hình hiện tại của nữ giới trong doanh nghiệp niêm yết

Theo thống kê, tỷ lệ nữ giới trong ban lãnh đạo các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam đã tăng từ 4% lên 24% trong giai đoạn 2009-2019. Điều này cho thấy sự gia tăng đáng kể về sự hiện diện của phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo, đồng thời phản ánh sự thay đổi trong tư duy xã hội về vai trò của phụ nữ.

II. Những thách thức mà nữ giới gặp phải trong ban lãnh đạo doanh nghiệp

Mặc dù có sự gia tăng về số lượng nữ giới trong ban lãnh đạo, nhưng họ vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức. Các rào cản như định kiến giới, trách nhiệm gia đình và thiếu cơ hội phát triển nghề nghiệp vẫn tồn tại. Những yếu tố này ảnh hưởng đến khả năng thăng tiến của phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo.

2.1. Định kiến giới và ảnh hưởng đến sự thăng tiến

Định kiến giới vẫn là một trong những rào cản lớn nhất đối với sự thăng tiến của nữ giới trong ban lãnh đạo. Nhiều người vẫn cho rằng phụ nữ không đủ khả năng đảm nhận các vị trí lãnh đạo cao cấp, điều này dẫn đến sự thiếu hụt cơ hội cho họ.

2.2. Trách nhiệm gia đình và áp lực công việc

Phụ nữ thường phải cân bằng giữa công việc và trách nhiệm gia đình, điều này tạo ra áp lực lớn. Nhiều nữ lãnh đạo phải đối mặt với việc chăm sóc con cái và gia đình trong khi vẫn phải hoàn thành nhiệm vụ công việc, dẫn đến sự căng thẳng và giảm hiệu suất.

III. Phương pháp nâng cao sự tham gia của nữ giới trong ban lãnh đạo

Để nâng cao sự tham gia của nữ giới trong ban lãnh đạo, cần có các chính sách và chương trình hỗ trợ. Các doanh nghiệp nên tạo ra môi trường làm việc thân thiện và khuyến khích sự phát triển nghề nghiệp cho phụ nữ.

3.1. Chính sách hỗ trợ và phát triển nghề nghiệp

Các doanh nghiệp cần xây dựng chính sách hỗ trợ phụ nữ trong việc phát triển nghề nghiệp, bao gồm các chương trình đào tạo và mentoring. Điều này sẽ giúp phụ nữ tự tin hơn trong việc đảm nhận các vị trí lãnh đạo.

3.2. Tạo môi trường làm việc thân thiện

Một môi trường làm việc thân thiện và hỗ trợ sẽ giúp phụ nữ cảm thấy thoải mái hơn khi tham gia vào các hoạt động lãnh đạo. Các doanh nghiệp nên khuyến khích sự đa dạng và tôn trọng ý kiến của tất cả nhân viên.

IV. Kết quả nghiên cứu về tác động của nữ giới trong ban lãnh đạo

Nghiên cứu cho thấy sự hiện diện của nữ giới trong ban lãnh đạo có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Các chỉ số như ROA và ROE thường cao hơn ở những doanh nghiệp có nhiều nữ lãnh đạo.

4.1. Tác động đến hiệu quả tài chính

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng doanh nghiệp có nữ giới trong ban lãnh đạo thường có hiệu quả tài chính tốt hơn. Điều này cho thấy rằng sự đa dạng trong lãnh đạo có thể mang lại lợi ích cho doanh nghiệp.

4.2. Tác động đến văn hóa doanh nghiệp

Sự hiện diện của nữ giới trong ban lãnh đạo cũng góp phần tạo ra một văn hóa doanh nghiệp tích cực hơn. Phụ nữ thường mang lại sự đồng cảm và khả năng giao tiếp tốt, điều này giúp cải thiện mối quan hệ trong công ty.

V. Kết luận và triển vọng tương lai cho nữ giới trong lãnh đạo doanh nghiệp

Tương lai của nữ giới trong ban lãnh đạo doanh nghiệp tại Việt Nam có nhiều triển vọng. Với sự thay đổi trong nhận thức xã hội và các chính sách hỗ trợ, phụ nữ sẽ có nhiều cơ hội hơn để tham gia vào các vị trí lãnh đạo.

5.1. Triển vọng phát triển

Sự gia tăng số lượng nữ giới trong ban lãnh đạo sẽ tiếp tục diễn ra, đặc biệt khi các doanh nghiệp nhận ra giá trị của sự đa dạng trong lãnh đạo. Điều này sẽ tạo ra một môi trường kinh doanh tích cực hơn.

5.2. Khuyến nghị cho các doanh nghiệp

Các doanh nghiệp nên tiếp tục thúc đẩy sự tham gia của nữ giới trong ban lãnh đạo thông qua các chính sách hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi. Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

10/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp kế toán kiểm toán ảnh hưởng của nữ giới trong ban lãnh đạo đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về tác động của nữ thành viên trong ban lãnh đạo đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết.,và cộng sự (2019) đã nghiên cứu ảnh hưởng của đa dạng giới trong hội đồng quản trị đến kết quả hoạt động của các doanh nghiệp thông qua việc thu thập mẫu của 170 doanh nghiệp phi tài chính được niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam trong vòng năm năm từ 2010 đến 2015 trên website https://vietstock. Bài nghiên cứu sử dụng biến ROS và ROA thé hiện thành qua của công ty; các biến đo lường đa dang hóa giới tính bao gồm biến phần trăm nữ giới trong Hội đồng quản trị (HĐQT), biến giả số lượng thành viên nữ trong HĐQT kết hợp với các biến kiểm soát như quy mô số lượng thành viên trong HĐQT (Boardsize), quy mô doanh nghiệp (FirmSize), đòn bay nợ trên tổng tài sản (LEV), tuổi doanh nghiệp (FirmAge). Thông qua phương pháp generalized method of moments (GMM), bài nghiên cứu cho kết quả rang phần trăm nữ giới có tác động tích cực lên biến ROA và ROS.

Kết quả mô hình nghiên cứu được đánh giá là là mô hình mang lại kết quả tốt thông qua việc kiểm định Hansen test và AR(2). Nhóm tác giả khang định rằng tồn tại mdi tương quan thuận chiều giữa sự đóng góp của nữ thành viên HĐQT với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, đặc biệt khi nữ giới đóng vai tro là chủ tịch HĐQT thì hiệu suất hoạt động sẽ được nâng cao hơn so với các doanh nghiệp không có nữ thành viên là đảm nhận vị trí này. Mặt khác, tác giả kết luận rằng nếu trong một doanh nghiệp nếu HĐQT chỉ có một thành viên nữ giới sẽ cho kết quả tác động tiêu cực lên thành quả hoạt động của doanh nghiệp. Trong khi đó, nếu có sự cải thiện về số lượng nữ giới rong HĐQT có từ hai thành viên trở lên sẽ mang lại tác động thuận chiều lên hiệu quả hoạt động cua doanh nghiệp.

15 Một nghiên cứu khác về ảnh hưởng của nữ giới trong ban lãnh đạo đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận (ĐCLN) của Tân, T., cộng sự (2017) đã cho ra phát hiện rằng số lượng nữ giới trong HĐQT kiêm nhiệm việc điều hành công ty là cao thì hành vi ĐCLN tăng lên. Tác giả đã thu thập số liệu từ BCTC và BCTN của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE trong thời gian từ 2010 đến 2015 dựa theo các biến độc lập gồm số lượng thành viên nữ trong HĐQT kiêm nhiệm điều hành, chủ tịch HĐQT là nữ, giám đốc điều hành là nữ giới; các biến kiểm soát gồm: quy mô HĐQT (BSize), biến thé hiện đòn bay tai chính (LEV), biến ROA. Biến được đo lường đại diện cho hành vi DCLN (EM) được tính bằng biến dồn tích có điều chỉnh (DA). Tác giả đã thu thập hơn 160 mẫu đã điều chỉnh của các doanh nghiệp niêm yết thuộc nhóm ngành phi tài chính kết hợp với mô hình hồi quy OLS và kiểm định Breusch-Pagan.

Bài nghiên cứu cho thấy rằng công ty có it nhất 3 thành viên nữ trở lên trong HĐQT thì sẽ làm giảm hành vi ĐCLN. Điều này ngụ ý rang tồn tại mỗi lién hệ thuận chiêu giữa số lượng thành viên nữ điều hành trong HĐQT với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp; đôi với biến nữ điều hành là giám đốc thé hiện mối liên hệ nghịch chiều với ĐCLN; các biến kiểm soát còn lại bài nghiên cứu chưa tìm thấy mối tương quan. Đối với biến ROA, mô hình cho kết quả là hệ số dương với hành vi ĐCLN, khi ROA tăng thêm I thì hành vi ĐCLN tăng lên 0,1546. Qua kết quả nghiên cứu, tác giả đã đưa ra một số đề xuất về chính sách trên một SỐ phương diện.

Cụ thể, tác giả đề xuất nên bổ nhiệm thêm nhiều thành viên nữ hơn trong HĐQT, số lượng phụ nữ trong HĐQT càng tăng, sẽ giúp giám sát tốt hơn; thêm vào đó cần khuyến khích bổ nhiệm CEO là nữ. Bài nghiên cứu khác của Yasmina Jaber (2020) đã sử dụng mô hình bình phương nhỏ nhất kép (2SLS) để đánh giá tác động sự hiện diện của phụ nữ trong Hội đồng quản trị đến hiệu quả hoạt động của 46 Công ty niêm yết trên sản chứng khoán Tunisia (BVMT) trong giai đoạn 2015-2019. Bài nghiên cứu 16 đã thu thập dữ liệu từ các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên sẵn có trên website của Sở giao dịch chứng khoán Tunisia (www.tn) dựa theo các biến độc lập bao gồm: biến giả thể hiện sự hiện diện của nữ giới (DFemale); phần trăm nữ giới có trong Hội đồng quản trị (PFemale); chỉ số Blau và Shannon thê hiện độ đa dạng của giới tính trong Hội đồng quản trị kết hợp với các biến Kiểm soát gồm: đòn bảy tài chính nợ trên tổng tài sản (Leverage); quy mô doanh nghiệp (Size C); quy mô hội đồng quản trị (Size B) và tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA). Thêm vào đó, biến phụ thuộc thé hiện hiệu quả hoạt động của các công ty được do bằng Tobin’s Q - thể hiện giá trị thị trường trên giá trị số sách của công ty, nếu Tobin’s Q lớn hơn 1 cho biết tình huống công ty quan tâm đến việc đầu tư vì vốn đầu tư sẽ có giá trị cao hơn và ngược lại đối với trường hợp Q nhỏ hon 1.

Kết quả mô hình cho thấy, sự hiện diện sự đa dạng giới tinh trong hội đồng quản trị không có tác động đến biến Tobin’s Q; đối với các biến kiểm soát Size C và ROA có tác động tiêu cực đến biến hiệu quả hoạt động, biến LEV lại không có tác động đến Tobin’s Q. Tuy nhiên, khi tác giả sử dụng biến DFemale là biến phụ thuộc kết quả mô hình cho thay được mối quan hệ tiêu cực đáng kể giữa sự hiện diện của phụ nữ trong hội đồng quản trị và hiệu quả hoạt động của công ty đã được phát hiện. Bài nghiên cứu cũng đưa ra kết luận rằng một công ty có giá trị hiệu suất cao hơn có xu hướng bao gồm ít giám đốc nữ hơn trong hội đồng quản trị của họ. Thêm vào đó, tác giả đã sử dụng phương pháp dữ liệu bảng và kiểm soát tính nội sinh để chỉ ra kết luận rằng sự da dạng giới tinh trong hội dong quản trị không có tác động đến hiệu quả hoạt động của công ty niêm yết được do lường bằng Tobin’s QO.

Tuy nhiên, nếu đạt đến ngưỡng tới hạn, tác động đến sự đa dạng giới tính trở nên tích cực và có ý nghĩa. Cuối cùng, tác giả cho răng số lượng hạn chế các công ty được sử dụng trong mẫu có thê làm sai lệch kêt quả. Hơn nữa, sô lượng phụ nữ có 17 quyền ra quyết định ở Tunisia thực tế rất hạn chế, điều này giúp giảm thiểu tác động của họ đối với hoạt động tài chính của các công ty niêm yết. Một nghiên cứu khác của Bình, H.

(2021) nhằm xem xét mối tương quan giữa giới tính của tong giám đốc lên kết quả kinh doanh của 58 công ty niêm yết trên san chứng khoán HOSE và HNX. Nghiên cứu sử dung ba biện pháp khác nhau dé thể hiện kết quả hoạt động của công ty, bao gồm ROA, ROE và Tobin's Q. Ngoài ra, tác giả còn thu thập biến độc lập nữ CEO (FCEO); các biến kiểm soát bao gồm biến cơ cấu sở hữu (tỷ lệ cổ đông lớn làm thành viên HĐQT, tỷ lệ cổ đông sở hữu nhà nước, ty lệ cổ đông trong và ngoài nước), đặc điểm HĐQT các biến liên quan và đặc điểm công ty Các biến liên quan: quy mô hội đồng quản trị (BSIZE), thành viên HĐQT kiêm nhiệm (DUAL), quy mô công ty (SIZE), đòn bay tài chính (LEV). Bài nghiên cứu sử dụng mô hình quy bình phương tối thiểu tổng quát (GLS) cho kết quả các đoanh nghiệp có nữ giới là CEO có kết quả kinh doanh hoạt động tốt hơn so với các công ty có nam giới là giám đốc diéu hành.

Tác giả giải thích thêm về kết quả này là do khi nữ giới năm giữ vị trí là tổng giám đốc điều hành công ty họ thường có xu hướng không muốn rủi ro cao và ít thực hiện hành vi phi đạo đức hơn nam giới. Thật vậy, phụ nữ ngày nay ngày càng được coi trọng bởi họ có hiểu biết rộng hơn, tích cực tham gia các hoạt động xã hội, chiếm giữ những vi trí quan trọng trong xã hội. Đối với các biến kiểm soát, nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ đồng biến giữa ty lệ sở hữu cô phần của thành viên HĐQT và các biến đo lường hiệu quả hoạt động. Đồng thời, việc tăng tỷ lệ sở hữu cô phần trong và ngoài nước sẽ giúp cải thiện hiệu quả hoạt động của công ty.

Nhà đầu tư nước ngoài không chi đầu tư vốn đáng kề vào công ty mà còn tạo sự linh hoạt trong việc giám sát các hoạt động của ban quản lý. Trái ngược lại với các biến trên, biến thể hiện tỷ lệ sở hữu của Nhà nước và đòn bay tài chính lai mang lại tac động ngược chiều lên kết quả kinh doanh của công ty trong khi quy mô công ty càng 18 lớn thì kết quả kinh doanh càng cao. Kết thúc bài nghiên cứu, tác giả nhắn mạnh lại sự ủng hộ cho các chính sách đề cao sự góp phần lãnh đạo của nữ giới cho xã hội và doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cần có các chính sách tích cực cho nữ giới và khuyến khích nữ giới nắm giữ đảm nhận chức vụ quan trọng trong HĐQT và Ban điều hành nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động của công ty.

Tổng quan về các nhân tố khác tác động đến hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết. (2017) đã có bài nghiên cứu đánh giá về hai nhân tố gồm quy mô và sở hữu nước ngoai nhằm đo lường mối tương quan với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp định tính và định lượng với số mẫu thu thập trong giai đoạn 2009 đến 2015 của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE và HNX. Trong bài nghiên cứu, tác giả đã sử dụng Tobin’s Q làm biến phụ thuộc nhằm đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và các biến độc lập bao gồm: quy mô doanh nghiệp được đo lường bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản, tỷ lệ phần trăm của phần sở hữu nước ngoài (Shnn), số tuổi của doanh nghiệp (Age), số lao động của doanh nghiệp (Emp), đòn bay tài chính (LEV) được đo bang tổng nợ chia cho tổng tài sản, tính thanh khoản của doanh nghiệp (Liq) bằng tài sản ngắn hạn chia cho tổng ngắn hạn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Tác động của nữ giới trong ban lãnh đạo đến hiệu quả doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam" khám phá vai trò quan trọng của nữ giới trong các vị trí lãnh đạo và ảnh hưởng của họ đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết. Nghiên cứu chỉ ra rằng sự hiện diện của nữ giới trong ban lãnh đạo không chỉ nâng cao khả năng ra quyết định mà còn góp phần cải thiện kết quả tài chính và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Đối với những ai quan tâm đến mối liên hệ giữa giới tính và hiệu quả kinh doanh, tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc và những dữ liệu thực tiễn có giá trị. Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ ảnh hưởng của giới tính giám đốc đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam, nơi phân tích chi tiết về tác động của giới tính giám đốc đến hiệu quả kinh doanh. Ngoài ra, Đề tài nghiên cứu khoa học tác động của giới tính lãnh đạo tới rủi ro sụp đổ giá cổ phiếu của các doanh nghiệp phi tài chính tại Việt Nam cũng là một nguồn tài liệu hữu ích, giúp bạn hiểu rõ hơn về rủi ro tài chính liên quan đến giới tính lãnh đạo. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về tác động của giới tính trong môi trường doanh nghiệp tại Việt Nam.