CHƯƠNG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về tác động của nữ thành viên trong ban lãnh đạo đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết.,và cộng sự (2019) đã nghiên cứu ảnh hưởng của đa dạng giới trong hội đồng quản trị đến kết quả hoạt động của các doanh nghiệp thông qua việc thu thập mẫu của 170 doanh nghiệp phi tài chính được niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam trong vòng năm năm từ 2010 đến 2015 trên website https://vietstock. Bài nghiên cứu sử dụng biến ROS và ROA thé hiện thành qua của công ty; các biến đo lường đa dang hóa giới tính bao gồm biến phần trăm nữ giới trong Hội đồng quản trị (HĐQT), biến giả số lượng thành viên nữ trong HĐQT kết hợp với các biến kiểm soát như quy mô số lượng thành viên trong HĐQT (Boardsize), quy mô doanh nghiệp (FirmSize), đòn bay nợ trên tổng tài sản (LEV), tuổi doanh nghiệp (FirmAge). Thông qua phương pháp generalized method of moments (GMM), bài nghiên cứu cho kết quả rang phần trăm nữ giới có tác động tích cực lên biến ROA và ROS.
Kết quả mô hình nghiên cứu được đánh giá là là mô hình mang lại kết quả tốt thông qua việc kiểm định Hansen test và AR(2). Nhóm tác giả khang định rằng tồn tại mdi tương quan thuận chiều giữa sự đóng góp của nữ thành viên HĐQT với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, đặc biệt khi nữ giới đóng vai tro là chủ tịch HĐQT thì hiệu suất hoạt động sẽ được nâng cao hơn so với các doanh nghiệp không có nữ thành viên là đảm nhận vị trí này. Mặt khác, tác giả kết luận rằng nếu trong một doanh nghiệp nếu HĐQT chỉ có một thành viên nữ giới sẽ cho kết quả tác động tiêu cực lên thành quả hoạt động của doanh nghiệp. Trong khi đó, nếu có sự cải thiện về số lượng nữ giới rong HĐQT có từ hai thành viên trở lên sẽ mang lại tác động thuận chiều lên hiệu quả hoạt động cua doanh nghiệp.
15 Một nghiên cứu khác về ảnh hưởng của nữ giới trong ban lãnh đạo đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận (ĐCLN) của Tân, T., cộng sự (2017) đã cho ra phát hiện rằng số lượng nữ giới trong HĐQT kiêm nhiệm việc điều hành công ty là cao thì hành vi ĐCLN tăng lên. Tác giả đã thu thập số liệu từ BCTC và BCTN của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE trong thời gian từ 2010 đến 2015 dựa theo các biến độc lập gồm số lượng thành viên nữ trong HĐQT kiêm nhiệm điều hành, chủ tịch HĐQT là nữ, giám đốc điều hành là nữ giới; các biến kiểm soát gồm: quy mô HĐQT (BSize), biến thé hiện đòn bay tai chính (LEV), biến ROA. Biến được đo lường đại diện cho hành vi DCLN (EM) được tính bằng biến dồn tích có điều chỉnh (DA). Tác giả đã thu thập hơn 160 mẫu đã điều chỉnh của các doanh nghiệp niêm yết thuộc nhóm ngành phi tài chính kết hợp với mô hình hồi quy OLS và kiểm định Breusch-Pagan.
Bài nghiên cứu cho thấy rằng công ty có it nhất 3 thành viên nữ trở lên trong HĐQT thì sẽ làm giảm hành vi ĐCLN. Điều này ngụ ý rang tồn tại mỗi lién hệ thuận chiêu giữa số lượng thành viên nữ điều hành trong HĐQT với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp; đôi với biến nữ điều hành là giám đốc thé hiện mối liên hệ nghịch chiều với ĐCLN; các biến kiểm soát còn lại bài nghiên cứu chưa tìm thấy mối tương quan. Đối với biến ROA, mô hình cho kết quả là hệ số dương với hành vi ĐCLN, khi ROA tăng thêm I thì hành vi ĐCLN tăng lên 0,1546. Qua kết quả nghiên cứu, tác giả đã đưa ra một số đề xuất về chính sách trên một SỐ phương diện.
Cụ thể, tác giả đề xuất nên bổ nhiệm thêm nhiều thành viên nữ hơn trong HĐQT, số lượng phụ nữ trong HĐQT càng tăng, sẽ giúp giám sát tốt hơn; thêm vào đó cần khuyến khích bổ nhiệm CEO là nữ. Bài nghiên cứu khác của Yasmina Jaber (2020) đã sử dụng mô hình bình phương nhỏ nhất kép (2SLS) để đánh giá tác động sự hiện diện của phụ nữ trong Hội đồng quản trị đến hiệu quả hoạt động của 46 Công ty niêm yết trên sản chứng khoán Tunisia (BVMT) trong giai đoạn 2015-2019. Bài nghiên cứu 16 đã thu thập dữ liệu từ các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên sẵn có trên website của Sở giao dịch chứng khoán Tunisia (www.tn) dựa theo các biến độc lập bao gồm: biến giả thể hiện sự hiện diện của nữ giới (DFemale); phần trăm nữ giới có trong Hội đồng quản trị (PFemale); chỉ số Blau và Shannon thê hiện độ đa dạng của giới tính trong Hội đồng quản trị kết hợp với các biến Kiểm soát gồm: đòn bảy tài chính nợ trên tổng tài sản (Leverage); quy mô doanh nghiệp (Size C); quy mô hội đồng quản trị (Size B) và tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA). Thêm vào đó, biến phụ thuộc thé hiện hiệu quả hoạt động của các công ty được do bằng Tobin’s Q - thể hiện giá trị thị trường trên giá trị số sách của công ty, nếu Tobin’s Q lớn hơn 1 cho biết tình huống công ty quan tâm đến việc đầu tư vì vốn đầu tư sẽ có giá trị cao hơn và ngược lại đối với trường hợp Q nhỏ hon 1.
Kết quả mô hình cho thấy, sự hiện diện sự đa dạng giới tinh trong hội đồng quản trị không có tác động đến biến Tobin’s Q; đối với các biến kiểm soát Size C và ROA có tác động tiêu cực đến biến hiệu quả hoạt động, biến LEV lại không có tác động đến Tobin’s Q. Tuy nhiên, khi tác giả sử dụng biến DFemale là biến phụ thuộc kết quả mô hình cho thay được mối quan hệ tiêu cực đáng kể giữa sự hiện diện của phụ nữ trong hội đồng quản trị và hiệu quả hoạt động của công ty đã được phát hiện. Bài nghiên cứu cũng đưa ra kết luận rằng một công ty có giá trị hiệu suất cao hơn có xu hướng bao gồm ít giám đốc nữ hơn trong hội đồng quản trị của họ. Thêm vào đó, tác giả đã sử dụng phương pháp dữ liệu bảng và kiểm soát tính nội sinh để chỉ ra kết luận rằng sự da dạng giới tinh trong hội dong quản trị không có tác động đến hiệu quả hoạt động của công ty niêm yết được do lường bằng Tobin’s QO.
Tuy nhiên, nếu đạt đến ngưỡng tới hạn, tác động đến sự đa dạng giới tính trở nên tích cực và có ý nghĩa. Cuối cùng, tác giả cho răng số lượng hạn chế các công ty được sử dụng trong mẫu có thê làm sai lệch kêt quả. Hơn nữa, sô lượng phụ nữ có 17 quyền ra quyết định ở Tunisia thực tế rất hạn chế, điều này giúp giảm thiểu tác động của họ đối với hoạt động tài chính của các công ty niêm yết. Một nghiên cứu khác của Bình, H.
(2021) nhằm xem xét mối tương quan giữa giới tính của tong giám đốc lên kết quả kinh doanh của 58 công ty niêm yết trên san chứng khoán HOSE và HNX. Nghiên cứu sử dung ba biện pháp khác nhau dé thể hiện kết quả hoạt động của công ty, bao gồm ROA, ROE và Tobin's Q. Ngoài ra, tác giả còn thu thập biến độc lập nữ CEO (FCEO); các biến kiểm soát bao gồm biến cơ cấu sở hữu (tỷ lệ cổ đông lớn làm thành viên HĐQT, tỷ lệ cổ đông sở hữu nhà nước, ty lệ cổ đông trong và ngoài nước), đặc điểm HĐQT các biến liên quan và đặc điểm công ty Các biến liên quan: quy mô hội đồng quản trị (BSIZE), thành viên HĐQT kiêm nhiệm (DUAL), quy mô công ty (SIZE), đòn bay tài chính (LEV). Bài nghiên cứu sử dụng mô hình quy bình phương tối thiểu tổng quát (GLS) cho kết quả các đoanh nghiệp có nữ giới là CEO có kết quả kinh doanh hoạt động tốt hơn so với các công ty có nam giới là giám đốc diéu hành.
Tác giả giải thích thêm về kết quả này là do khi nữ giới năm giữ vị trí là tổng giám đốc điều hành công ty họ thường có xu hướng không muốn rủi ro cao và ít thực hiện hành vi phi đạo đức hơn nam giới. Thật vậy, phụ nữ ngày nay ngày càng được coi trọng bởi họ có hiểu biết rộng hơn, tích cực tham gia các hoạt động xã hội, chiếm giữ những vi trí quan trọng trong xã hội. Đối với các biến kiểm soát, nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ đồng biến giữa ty lệ sở hữu cô phần của thành viên HĐQT và các biến đo lường hiệu quả hoạt động. Đồng thời, việc tăng tỷ lệ sở hữu cô phần trong và ngoài nước sẽ giúp cải thiện hiệu quả hoạt động của công ty.
Nhà đầu tư nước ngoài không chi đầu tư vốn đáng kề vào công ty mà còn tạo sự linh hoạt trong việc giám sát các hoạt động của ban quản lý. Trái ngược lại với các biến trên, biến thể hiện tỷ lệ sở hữu của Nhà nước và đòn bay tài chính lai mang lại tac động ngược chiều lên kết quả kinh doanh của công ty trong khi quy mô công ty càng 18 lớn thì kết quả kinh doanh càng cao. Kết thúc bài nghiên cứu, tác giả nhắn mạnh lại sự ủng hộ cho các chính sách đề cao sự góp phần lãnh đạo của nữ giới cho xã hội và doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cần có các chính sách tích cực cho nữ giới và khuyến khích nữ giới nắm giữ đảm nhận chức vụ quan trọng trong HĐQT và Ban điều hành nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động của công ty.
Tổng quan về các nhân tố khác tác động đến hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết. (2017) đã có bài nghiên cứu đánh giá về hai nhân tố gồm quy mô và sở hữu nước ngoai nhằm đo lường mối tương quan với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp định tính và định lượng với số mẫu thu thập trong giai đoạn 2009 đến 2015 của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE và HNX. Trong bài nghiên cứu, tác giả đã sử dụng Tobin’s Q làm biến phụ thuộc nhằm đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và các biến độc lập bao gồm: quy mô doanh nghiệp được đo lường bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản, tỷ lệ phần trăm của phần sở hữu nước ngoài (Shnn), số tuổi của doanh nghiệp (Age), số lao động của doanh nghiệp (Emp), đòn bay tài chính (LEV) được đo bang tổng nợ chia cho tổng tài sản, tính thanh khoản của doanh nghiệp (Liq) bằng tài sản ngắn hạn chia cho tổng ngắn hạn.