Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán của tác giả Vũ Hồng Hạnh (Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, hướng dẫn bởi TS. Nguyễn Thị Hương Liên, năm 2023) tiếp cận chủ đề quản trị công ty dưới góc độ đa dạng giới trong bộ máy điều hành doanh nghiệp.

Về bối cảnh thực tiễn, tác giả chỉ ra rằng định kiến xã hội truyền thống từng hạn chế vai trò của phụ nữ trong các hoạt động kinh tế. Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế - xã hội và phong trào bình đẳng giới đã từng bước khẳng định vị thế của nữ giới trong công tác quản trị. Theo số liệu từ Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), năm 2014 ghi nhận tỷ lệ cứ bốn doanh nghiệp thì có một doanh nghiệp do nữ giới nắm giữ vị trí lãnh đạo cấp cao. Báo cáo năm 2019 của VCCI cũng phản ánh tỷ lệ doanh nghiệp có nữ thành viên làm chủ tại Việt Nam tăng trưởng liên tục qua các mốc thời gian: từ 4% năm 2009 lên 21% năm 2011 và đạt 24% năm 2019. Bên cạnh đó, bối cảnh khủng hoảng do đại dịch Covid-19 trong giai đoạn 2020–2022 đặt ra nhiều thách thức đối với khả năng duy trì hoạt động kinh doanh, trong đó nhiều doanh nghiệp do nữ lãnh đạo đã thể hiện năng lực thích ứng, tham gia kịp thời vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Mặc dù vậy, các bằng chứng thực nghiệm về tác động của nữ giới trong ban lãnh đạo đến kết quả kinh doanh tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam vẫn còn phân tán và tồn tại nhiều quan điểm trái chiều.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  • Mục tiêu chung: Nghiên cứu mối quan hệ giữa sự hiện diện của phụ nữ trong ban lãnh đạo và hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết tại Việt Nam; làm rõ hiệu quả hoạt động bắt nguồn từ thuộc tính cá nhân của thành viên nữ hay xuất phát từ sự hiện diện của nữ giới trong cơ cấu lãnh đạo.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu: Hệ thống hóa cơ sở lý luận, xây dựng mô hình kinh tế lượng đo lường tác động của các đặc tính nữ lãnh đạo tới hiệu quả hoạt động, phân tích thực trạng giai đoạn 2018–2022 và đề xuất các khuyến nghị chính sách.

Khóa luận tập trung giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Số lượng thành viên nữ trong Ban lãnh đạo có mối tương quan như thế nào với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp?
  2. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp có bị tác động bởi sự hiện diện của nữ giới trong ban lãnh đạo hay không?
  3. Qua việc đánh giá tác động của sự hiện diện của nữ giới trong ban lãnh đạo đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp có những khuyến nghị, chính sách nào để cải thiện sự tham gia của nữ giới trong ban lãnh đạo của doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp hay không?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tác động của nữ giới trong ban lãnh đạo (bao gồm Hội đồng Quản trị và Ban Giám đốc) đến hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết tại Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Dữ liệu được trích xuất từ báo cáo tài chính, báo cáo thường niên và báo cáo quản trị công bố trên cổng thông tin Vietstock của 202 công ty phi tài chính hoạt động liên tục trên hai sở giao dịch chứng khoán HOSE và HNX (được chọn lọc và làm sạch từ mẫu ban đầu gồm 250 doanh nghiệp), đại diện cho 8 nhóm ngành: sản xuất, khai khoáng, bán buôn, vận tải và kho bãi, tiện ích, công nghệ và thông tin, dịch vụ, xây dựng và bất động sản. Các tổ chức thuộc khối tài chính, ngân hàng và bảo hiểm bị loại trừ do đặc thù riêng biệt về cấu trúc vốn và báo cáo.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 5 năm từ năm 2018 đến năm 2022, tạo thành bộ dữ liệu bảng cân đối với tổng số 1.010 quan sát.
  • Phạm vi nội dung: Phân tích số lượng, tỷ lệ và các đặc điểm chức danh, học vấn của nữ giới trong Hội đồng Quản trị và Ban Giám đốc, kết hợp với các biến kiểm soát về quy mô, đòn bẩy và cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng lập luận dựa trên hai lý thuyết quản trị nền tảng:

  • Lý thuyết đại diện (Agency Theory - Jensen & Meckling, 1976; Berle, 1932): Giải thích các xung đột lợi ích phát sinh do sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành, bao gồm ba mối quan hệ mâu thuẫn: cổ đông đối với ban giám đốc; chủ nợ đối với cổ đông/nhà quản lý; và cổ đông kiểm soát đối với cổ đông thiểu số. Việc đa dạng hóa Hội đồng Quản trị bằng cách bổ sung thành viên nữ làm gia tăng tính độc lập, giảm thiểu bất cân xứng thông tin và hạn chế các hành vi tư lợi của nhà quản lý (Carter et al., 2003; Francoeur et al., 2008).
  • Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (Resource Dependence Theory - Pfeffer & Salancik, 1978; Hillman et al.): Coi Hội đồng Quản trị là cầu nối chiến lược giữa doanh nghiệp với môi trường bên ngoài. Thành viên nữ mang lại các nguồn lực độc đáo về mạng lưới xã hội, sự thấu hiểu tâm lý khách hàng, phong cách giao tiếp linh hoạt và góc nhìn đa chiều, giúp tổ chức ra quyết định hiệu quả hơn và tạo dựng tính hợp pháp với các bên liên quan.

Về đo lường hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, tác giả tổng hợp quan điểm từ Adam Smith, Venkatraman et al. (1986), Coelli et al. (2005), Adam H. (2022) và chia các thước đo thành hai nhóm chỉ tiêu:

  • Nhóm giá trị sổ sách (đo lường ngắn hạn): Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA = Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản) và Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE = Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu).
  • Nhóm giá trị thị trường (đo lường kỳ vọng dài hạn): Hệ số Tobin’s Q = (Giá trị thị trường vốn cổ phần + Giá trị sổ sách của nợ) / Giá trị sổ sách của tổng tài sản.

Hệ thống giả thuyết nghiên cứu được tác giả xây dựng bao gồm 4 giả thuyết chính:

Ký hiệu Nội dung giả thuyết nghiên cứu
H1 Tỷ lệ nữ thành viên trong ban lãnh đạo tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
H2 Số lượng nữ thành viên trong ban lãnh đạo tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
H3 Nữ thành viên là chủ tịch HĐQT hoặc giám đốc có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
H4 Trình độ học vấn của nữ thành viên trong ban lãnh đạo ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa phân tích định tính (tổng quan tài liệu, thống kê bối cảnh vĩ mô) và kinh tế lượng thực nghiệm trên dữ liệu bảng. Quy trình ước lượng được triển khai qua các bước:

  1. Ước lượng mô hình bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS).
  2. Thực hiện các kiểm định chẩn đoán vi phạm giả định: kiểm định White để phát hiện hiện tượng phương sai thay đổi và kiểm định Wooldridge để phát hiện tự tương quan.
  3. Ước lượng mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM), sau đó áp dụng kiểm định Hausman nhằm lựa chọn dạng mô hình thích hợp.
  4. Sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát (GLS - Generalized Least Squares) trên phần mềm Stata để xử lý triệt để hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan, đảm bảo tính vững của các hệ số hồi quy.

Hệ thống biến số sử dụng trong các phương trình hồi quy bao gồm:

Phân loại Tên biến Ký hiệu Định nghĩa và cách tính
Biến phụ thuộc Hiệu quả tài chính ROA Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản
Hiệu quả tài chính ROE Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu
Giá trị thị trường Tobin’s Q (Giá trị thị trường cổ phần + Giá trị sổ sách nợ) / Tổng tài sản
Biến độc lập Tỷ lệ nữ lãnh đạo PFemale Tỷ lệ phần trăm nữ giới trong ban lãnh đạo
Số lượng nữ lãnh đạo F1, F2, F3 Biến giả: F1=1 nếu có 1 nữ; F2=1 nếu có 2 nữ; F3=1 nếu có từ 3 nữ trở lên
Nữ giám đốc điều hành F_CEO Biến giả = 1 nếu giám đốc điều hành/tổng giám đốc là nữ
Nữ chủ tịch HĐQT F_Chair Biến giả = 1 nếu chủ tịch Hội đồng Quản trị là nữ
Học vấn nữ lãnh đạo F_Edu Biến giả = 1 nếu CEO hoặc Chủ tịch HĐQT là nữ có trình độ Thạc sĩ trở lên
Biến kiểm soát Sở hữu tổ chức Ins Tỷ lệ phần trăm cổ phần do tổ chức sở hữu
Sở hữu nước ngoài Foreign Tỷ lệ phần trăm cổ phần do nhà đầu tư nước ngoài sở hữu
Quy mô ban lãnh đạo LnBoard Logarit tự nhiên của tổng số thành viên ban lãnh đạo
Quy mô doanh nghiệp Size Logarit tự nhiên của tổng tài sản doanh nghiệp
Đòn bẩy tài chính LEV Tổng nợ phải trả / Tổng tài sản
Độ tuổi doanh nghiệp LnAge Logarit tự nhiên của số năm hoạt động kể từ khi thành lập

Ba phương trình ước lượng tổng quát dạng GLS:

  • $\text{Tobin's } Q_{it} = \alpha_1 + \beta_1 \text{Female}{it} + \gamma_1 \text{Controls}{it} + u_i + \varepsilon_{it}$
  • $\text{ROA}{it} = \alpha_2 + \beta_2 \text{Female}{it} + \gamma_2 \text{Controls}{it} + u_i + \varepsilon{it}$
  • $\text{ROE}{it} = \alpha_3 + \beta_3 \text{Female}{it} + \gamma_3 \text{Controls}{it} + u_i + \varepsilon{it}$

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận

Chương này tổng thuật các công trình nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước về mối quan hệ giữa đa dạng giới và hiệu quả kinh doanh. Tác giả phân tích các nghiên cứu điển hình:

  • Nghiên cứu của các tác giả quốc tế (như Bennouri et al., 2017) cho thấy thành viên HĐQT nữ tương quan thuận với ROA, ROE nhưng có thể nghịch chiều với Tobin's Q; Yasmina Jaber (2020) nghiên cứu 46 công ty niêm yết tại Tunisia bằng mô hình 2SLS nhận thấy đa dạng giới chỉ phát huy tác động tích cực khi đạt đến một ngưỡng tới hạn nhất định.
  • Tại Việt Nam, nghiên cứu của Tân và cộng sự (2017) trên sàn HOSE giai đoạn 2010–2015 chỉ ra rằng doanh nghiệp có từ 3 thành viên nữ trở lên trong HĐQT giúp làm giảm đáng kể hành vi điều chỉnh lợi nhuận (ĐCLN); Huỳnh Thị Hương Bình (2021) phân tích 58 công ty niêm yết bằng mô hình GLS ghi nhận các doanh nghiệp có CEO là nữ đạt kết quả kinh doanh vượt trội hơn nhờ xu hướng quản trị rủi ro thận trọng và chuẩn mực đạo đức cao; Hoàng Thị Phương Anh (2018) chứng minh tỷ lệ và số lượng nữ giới trong HĐQT có tác động cùng chiều đến thành quả hoạt động.
  • Chương 1 cũng tổng quan các nghiên cứu về nhân tố kiểm soát như quy mô công ty, sở hữu nước ngoài, sở hữu tổ chức (Handriani et al., 2019; Vũ et al., 2019; Hasanudin et al., 2020), từ đó chỉ ra khoảng trống nghiên cứu: phần lớn các công trình tại Việt Nam trước đây chỉ phân tích riêng lẻ HĐQT hoặc Ban Giám đốc, thiếu sự kết hợp đồng thời cả hai bộ phận và chưa cập nhật số liệu trong giai đoạn biến động kinh tế 2018–2022.

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Chương 2 đào sâu cơ sở lý thuyết vi mô về quản trị công ty. Tác giả luận giải cơ chế mâu thuẫn đại diện theo Jensen & Meckling (1976) và Berle (1932), phân tích cách thức cơ cấu ban lãnh đạo đa dạng hỗ trợ giám sát đội ngũ quản lý điều hành. Kết hợp với Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (Pfeffer & Salancik, 1978), chương này làm rõ việc phụ nữ tham gia ban quản trị giúp mở rộng các mối liên kết với tổ chức bên ngoài, gia tăng tính minh bạch và tránh lối mòn tư duy nhóm (groupthink). Tác giả trích dẫn số liệu từ báo cáo của MSCI ESG chứng minh các công ty có nữ giới nắm giữ vị trí quan trọng trong ban lãnh đạo tạo ra tỷ suất ROE đạt bình quân 10,1%/năm, vượt trội so với mức 7,4%/năm ở các công ty vắng bóng lãnh đạo nữ. Dựa trên các luận cứ lý thuyết và thực tiễn, tác giả thiết lập 4 giả thuyết nghiên cứu (H1 đến H4) về vai trò tích cực của tỷ lệ, số lượng, chức danh chủ chốt (Chủ tịch/CEO) và trình độ học vấn sau đại học của nữ giới đối với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.

CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 3 trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu. Tác giả cụ thể hóa sơ đồ quy trình nghiên cứu qua 3 giai đoạn: xác định vấn đề và tổng quan; thu thập, xử lý dữ liệu và ước lượng mô hình; thảo luận kết quả và kiến nghị. Tác giả xây dựng bộ biến thực nghiệm, phân loại mẫu 202 doanh nghiệp phi tài chính theo 8 phân ngành trên HOSE và HNX giai đoạn 2018–2022 (tổng số 1.010 quan sát). Phương pháp phân tích kinh tế lượng được thiết lập chặt chẽ: sử dụng thống kê mô tả, ma trận tương quan Pearson để rà soát hiện tượng đa cộng tuyến (kết hợp chỉ số nhân tử phóng đại phương sai VIF với ngưỡng chấp nhận trung bình dưới 5), các kiểm định lựa chọn mô hình (White, Wooldridge, Hausman test) và lựa chọn mô hình hồi quy GLS nhằm đảm bảo các ước lượng thu được không bị chệch bởi hiện tượng phương sai thay đổi hay tự tương quan.

CHƯƠNG 4: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 4 mở đầu bằng việc phác họa bức tranh kinh tế vĩ mô và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết giai đoạn 2018–2022. Tác giả dẫn chứng số liệu năm 2018: GDP tăng trưởng 7,08%, lạm phát duy trì 3,54%, vốn FDI thực hiện đạt 19,1 tỷ USD, xuất siêu 7,2 tỷ USD, dự trữ ngoại hối đạt 60 tỷ USD, nợ xấu nội bảng ngân hàng giảm xuống 1,89%; chỉ số VN-Index sau khi lập đỉnh trong quý 1/2018 đã điều chỉnh giảm về 892,54 điểm (-9,32%) và HNX-Index đạt 104,23 điểm (-10,8%). Tiếp đó, tác giả phân tích diễn biến lợi nhuận doanh nghiệp bị suy giảm do đại dịch Covid-19 trong các năm 2020–2021 và sự phục hồi không đồng đều giữa các khối ngành cuối năm 2021–2022.

Về tỷ lệ nữ lãnh đạo, tác giả dẫn báo cáo Grant Thornton (2021) ghi nhận tỷ lệ nữ giới giữ vị trí quản lý cấp cao tại Việt Nam đạt 36%, xếp thứ hai khu vực châu Á (sau Philippines với 37,46%) và cao hơn mức trung bình toàn cầu (29%). Tác giả cũng chỉ ra các rào cản phụ nữ gặp phải: cơ hội thăng tiến bị giới hạn, khó khăn trong thiết lập mạng lưới quan hệ và gánh nặng trách nhiệm gia đình.

Phần phân tích định lượng trình bày kết quả thống kê mô tả, ma trận tương quan Pearson và chỉ số VIF (đều ở mức an toàn không xuất hiện đa cộng tuyến nghiêm trọng). Kết quả ước lượng hồi quy GLS cho thấy sự hiện diện và tỷ lệ nữ giới trong ban lãnh đạo có tác động tích cực, có ý nghĩa thống kê đối với cả ba thước đo hiệu quả hoạt động: ROA, ROE và Tobin’s Q. Đồng thời, số lượng thành viên nữ tăng lên đem lại sự cải thiện rõ nét đối với hiệu quả kinh doanh, ủng hộ các giả thuyết H1 và H2.

CHƯƠNG 5: KHUYẾN NGHỊ CHO CÁC BÊN LIÊN QUAN

Dựa trên các phát hiện thực nghiệm, chương 5 đưa ra hệ thống giải pháp chia theo hai nhóm chủ thể:

  • Đối với các doanh nghiệp niêm yết: Cần chủ động loại bỏ rào cản định kiến giới trong quy trình tuyển dụng và bổ nhiệm cán bộ cấp cao; xây dựng lộ trình đào tạo, phát triển năng lực chuyên môn cho nhân sự nữ; cân nhắc thiết lập chỉ tiêu tỷ lệ nữ tối thiểu trong Hội đồng Quản trị và Ban Giám đốc; tạo dựng môi trường làm việc linh hoạt giúp lao động nữ cân bằng giữa công việc và gia đình.
  • Đối với cơ quan quản lý Nhà nước: Hoàn thiện khung khổ pháp lý về bình đẳng giới trong quản trị doanh nghiệp; ban hành các văn bản hướng dẫn và bộ nguyên tắc quản trị công ty khuyến khích đa dạng giới tại các công ty niêm yết; triển khai các chính sách tôn vinh, hỗ trợ nữ doanh nhân tiếp cận nguồn lực tài chính và thương mại.

Kết quả và đóng góp của khóa luận

Kết quả nghiên cứu chính

  • Mô hình hồi quy GLS khẳng định sự hiện diện của nữ giới trong ban lãnh đạo mang lại tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đối với cả ba chỉ số hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp niêm yết: giá trị thị trường (Tobin’s Q), tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE).
  • Quy mô tham gia của nữ giới tỷ lệ thuận với hiệu quả hoạt động: doanh nghiệp có số lượng thành viên nữ trong ban lãnh đạo càng cao (đặc biệt khi đạt từ 2 đến 3 thành viên trở lên qua các biến giả F2, F3) thì mức độ cải thiện hiệu quả tài chính và giá trị thị trường càng rõ nét, tương đồng với phát hiện của Hoàng Thị Phương Anh (2018) và Tân và cộng sự (2017).
  • Bằng chứng thực nghiệm khẳng định cơ cấu lãnh đạo cân bằng giới tính đóng vai trò là một cơ chế quản trị hữu hiệu, giúp tăng cường kiểm soát nội bộ và hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua các cú sốc vĩ mô như giai đoạn dịch bệnh Covid-19.

Đóng góp về mặt khoa học

  • Hệ thống hóa toàn diện các lý thuyết quản trị vi mô (Lý thuyết đại diện, Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực) và khung lý thuyết đo lường hiệu quả hoạt động doanh nghiệp để giải thích tác động của đa dạng giới.
  • Bổ sung bằng chứng thực nghiệm giá trị vào khoảng trống dữ liệu kinh tế học tại các thị trường mới nổi, đặc biệt tại Việt Nam, nơi tỷ lệ nữ lãnh đạo cao nhưng các nghiên cứu định lượng kiểm soát khuyết tật dữ liệu bảng còn hạn chế.
  • Áp dụng quy trình kinh tế lượng đa bước (OLS, FEM, REM kết hợp kiểm định Hausman, White, Wooldridge) và xử lý triệt để khuyết tật dữ liệu bằng mô hình hồi quy GLS trên phần mềm chuyên dụng Stata (được ghi nhận tại Stata 17 và Stata 11 trong văn bản).

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp cơ sở khoa học để các doanh nghiệp niêm yết nhìn nhận việc bổ nhiệm lãnh đạo nữ không chỉ mang tính bình đẳng giới mà là một quyết định chiến lược đem lại lợi ích kinh tế trực tiếp.
  • Đề xuất định hướng chính sách cho các cơ quan quản lý (Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Bộ Tài chính) trong việc lồng ghép tiêu chuẩn đa dạng giới vào Bộ nguyên tắc Quản trị Công ty theo thông lệ quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Dựa trên nội dung khóa luận và phạm vi thực hiện, công trình tồn tại một số hạn chế:

  • Mẫu nghiên cứu chỉ giới hạn ở 202 công ty niêm yết thuộc nhóm ngành phi tài chính, loại trừ hoàn toàn các doanh nghiệp thuộc ngành tài chính, ngân hàng và bảo hiểm. Do đó, kết quả nghiên cứu chưa thể khái quát hóa cho toàn bộ thị trường chứng khoán Việt Nam.
  • Dữ liệu thu thập dừng lại ở giai đoạn 2018–2022, thời điểm chịu tác động nặng nề bởi cú sốc dịch bệnh Covid-19 và biến động kinh tế toàn cầu, có thể tạo ra các yếu tố nhiễu ngoại sinh ảnh hưởng đến các chỉ số tài chính.
  • Các biến số về đặc điểm nữ lãnh đạo chủ yếu tập trung vào số lượng, tỷ lệ, chức danh Chủ tịch/CEO và học vấn trên thạc sĩ; chưa đo lường sâu các biến thuộc tính khác như độ tuổi, thâm niên công tác, chuyên ngành đào tạo cụ thể hay kinh nghiệm làm việc quốc tế của các nữ lãnh đạo.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở:

  • Mở rộng quy mô mẫu sang các doanh nghiệp chưa niêm yết hoặc thực hiện nghiên cứu so sánh chuyên biệt trong khối định chế tài chính, ngân hàng.
  • Kéo dài chuỗi thời gian sau năm 2022 để kiểm chứng tính bền vững của các kết quả trong giai đoạn phục hồi kinh tế hậu Covid-19.
  • Bổ sung các biến trung gian hoặc biến điều tiết như phong cách lãnh đạo, cấu trúc ủy ban kiểm toán, hoặc mức độ số hóa của doanh nghiệp.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho nhiều đối tượng:

  • Sinh viên và học viên cao học các ngành Kế toán - Kiểm toán, Tài chính - Ngân hàng, Quản trị kinh doanh: Cung cấp tài liệu tham khảo thực tế về cách thiết kế đề tài nghiên cứu định lượng, xây dựng mô hình dữ liệu bảng và quy trình xử lý hồi quy GLS trên Stata.
  • Các nhà nghiên cứu về quản trị công ty: Kế thừa hệ thống chỉ tiêu đo lường kết hợp giữa biến kế toán (ROA, ROE) và biến thị trường (Tobin’s Q), cùng cách thức phân loại biến giả số lượng thành viên nữ (F1, F2, F3).
  • Ban lãnh đạo doanh nghiệp và nhà đầu tư: Là căn cứ thực nghiệm hỗ trợ các quyết định cơ cấu nhân sự cấp cao, xây dựng chính sách thúc đẩy đa dạng hóa hội đồng quản trị nhằm gia tăng giá trị doanh nghiệp.

Phần nội dung đáng tham khảo nhất trong văn bản là Chương 3 và Chương 4, nơi trình bày quy trình kiểm định kinh tế lượng bài bản để khắc phục hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan, cùng việc tích hợp các báo cáo thực tế từ VCCI, Grant Thornton và MSCI ESG.


Câu hỏi thường gặp

1. Mẫu nghiên cứu chính thức của khóa luận gồm bao nhiêu doanh nghiệp và thuộc những nhóm ngành nào?
Mẫu nghiên cứu chính thức bao gồm 202 công ty niêm yết trên hai sàn HOSE và HNX sau khi loại bỏ các công ty thiếu dữ liệu từ mẫu 250 doanh nghiệp ban đầu. Mẫu bao gồm 8 nhóm ngành phi tài chính: khai khoáng, sản xuất, bán buôn, vận tải và kho bãi, công nghệ thông tin, dịch vụ, tiện ích, xây dựng và bất động sản trong giai đoạn 2018–2022 (tổng số 1.010 quan sát). Khóa luận loại trừ ngành ngân hàng và bảo hiểm.

2. Khóa luận sử dụng các chỉ tiêu nào để đại diện cho hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp?
Nghiên cứu sử dụng kết hợp 3 chỉ tiêu: hai chỉ tiêu dựa trên giá trị sổ sách kế toán là ROA (Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản) và ROE (Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu), cùng một chỉ tiêu dựa trên giá trị thị trường là Tobin’s Q ((Giá trị thị trường vốn cổ phần + Giá trị sổ sách của nợ) / Tổng tài sản).

3. Khóa luận sử dụng phương pháp kinh tế lượng nào để xử lý các khuyết tật của dữ liệu bảng?
Sau khi chạy OLS, FEM, REM và thực hiện các kiểm định White (phương sai thay đổi), Wooldridge (tự tương quan) và Hausman test, tác giả đã sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát (GLS - Generalized Least Squares) trên phần mềm Stata để khắc phục hoàn toàn hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan.

4. Theo báo cáo Grant Thornton (2021) được trích dẫn trong bài, tỷ lệ nữ lãnh đạo cấp cao của Việt Nam đạt bao nhiêu phần trăm so với thế giới?
Theo số liệu thống kê của Grant Thornton năm 2021 được trích dẫn ở Chương 2 và Chương 4, tỷ lệ nữ giới đảm nhận các vị trí lãnh đạo cấp cao tại Việt Nam đạt 36%, đứng thứ hai châu Á (sau Philippines với 37,46%) và cao hơn đáng kể so với mức trung bình 29% của thế giới.

5. Kết quả hồi quy GLS khẳng định điều gì về tác động của số lượng nữ lãnh đạo đối với doanh nghiệp?
Kết quả hồi quy GLS chỉ ra rằng sự hiện diện của nữ giới có tác động tích cực đối với cả ba chỉ tiêu ROA, ROE và Tobin's Q. Đặc biệt, khi số lượng nữ thành viên trong ban lãnh đạo tăng lên (từ 2 đến 3 thành viên trở lên), tác động thúc đẩy hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp càng thể hiện rõ nét.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Hồng Hạnh là một công trình nghiên cứu thực nghiệm nghiêm túc về mối quan hệ giữa đa dạng giới trong ban lãnh đạo và hiệu quả hoạt động của 202 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2018–2022. Thông qua mô hình hồi quy GLS xử lý chặt chẽ các khuyết tật phương sai thay đổi và tự tương quan, tác giả đã chứng minh sự hiện diện và số lượng thành viên nữ trong Hội đồng Quản trị và Ban Giám đốc mang lại tác động tích cực đến cả chỉ số tài chính (ROA, ROE) lẫn giá trị thị trường (Tobin’s Q). Công trình không chỉ củng cố nền tảng lý thuyết đại diện và lý thuyết phụ thuộc nguồn lực tại một nền kinh tế chuyển đổi, mà còn cung cấp những hàm ý thực tiễn quan trọng giúp các doanh nghiệp niêm yết và cơ quan quản lý hoạch định chính sách bình đẳng giới hiệu quả.