chương 1 tác giả cũng đã trình bày đối tượng và phạm vi tiếp cận đề tài, phương pháp thực hiện, ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu và kết cấu của luận văn. Trong chương 2, tác giả sẽ trình bày chọn lọc các lý thuyết có liên quan đến đề tài nghiên cứu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Trong chương 2, tác giả sẽ thảo luận các khái niệm nghiên cứu: nhận thức về sự hỗ trợ của tổ chức, mối quan hệ lãnh đạo nhân viên, sự gắn kết công việc và kết quả công việc của nhân viên được trình bày như thế nào trong các tài liệu khoa học, các nghiên cứu có liên quan, đồng thời, biện luận để lựa chọn thang đo phù hợp cho đề tài, từ đó phát triển giả thuyết và mô hình nghiên cứu dự kiến. Nhận thức về sự hỗ trợ từ tổ chức (Perceived Organizational Support) Eisenberger và cộng sự (1986) đã phát triển khái niệm nhận thức về sự hỗ trợ từ tổ chức (POS) để giải thích việc gia tăng cam kết của nhân viên đối với tổ chức.
Họ đề xuất rằng "các nhân viên gia tăng niềm tin về tổ chức liên quan đến mức độ mà tổ chức đánh giá những đóng góp của nhân viên và quan tâm đến hạnh phúc của họ" (1986). Theo Lý thuyết hỗ trợ tổ chức (Eisenberger và cộng sự, 1986; Shore & Shore, 1995) nhận thức được tổ chức coi trọng và chăm sóc sẽ nâng cao niềm tin của nhân viên rằng tổ chức công nhận, khen thưởng thái độ và hành vi của nhân viên. Nhận thức về sự hỗ trợ từ tổ chức có liên quan tích cực đến kỳ vọng thưởng (Eisenberger và cộng sự, 1990). Phần thưởng có thể không chính thức (ví dụ: khen ngợi, cố vấn) hoặc chính thức (khuyến mãi, tăng lương).
Nhận thức về sự hỗ trợ từ tổ chức đáp ứng nhu cầu tâm lý của nhân viên và góp phần nâng cao sự hài lòng công việc bằng cách truyền đạt cho nhân viên về sự sẵn sàng giúp đỡ, hỗ trợ từ tổ chức (Eisenberger và Rhoades, 2002). Nhận thức sự hỗ trợ từ tổ chức (POS) nghĩa là nhân viên biết được rằng khi họ cần tổ chức sẽ hỗ trợ họ thực hiện công việc của mình và đối phó với các tình huống căng thẳng một cách hiệu quả (George, Reed, Ballard, Colin, & Fielding, 1993). Thông qua Lý thuyết trao đổi xã hội, nhân viên có xu hướng đáp lại các lợi ích và cơ hội mà tổ chức cung cấp cho họ thông qua kết quả công việc (Armstrong-Stassen và Ursel, 2009). Nhận thức về sự hỗ trợ từ tổ chức được xem là có ảnh hưởng tích cực và trực tiếp đến kết quả công việc của nhân viên vì nhiều lý do bao gồm nghĩa vụ đền đáp lại sự hỗ trợ của tổ chức và cam kết của tổ chức với họ (Eisenbergeret & cộng sự, 2001; Fulleret & cộng sự, 2006).
Kết quả của sự hỗ trợ đầy đủ từ tổ chức, nhân viên hoạt động hiệu quả tại nơi làm việc (Eisenberger và Rhoades, 2002). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Trong phạm vi đề tài nghiên cứu tác giả sử dụng định nghĩa của Eisenberger và cộng sự (1986) rằng nhận thức về sự hỗ trợ từ tổ chức (POS) đề cập đến mức độ mà nhân viên nhận thấy những đóng góp của họ có giá trị cho tổ chức, tổ chức đánh giá cao sự đóng góp của họ và tổ chức quan tâm đến hạnh phúc của họ. Mối quan hệ lãnh đạo nhân viên (Leader – member exchange) Lý thuyết lãnh đạo nhân viên (LMX) là một mối quan hệ được tiếp cận dựa trên người lãnh đạo, tập trung vào mối quan hệ hai chiều giữa các nhà lãnh đạo và nhân viên (Graen & Uhl-Bien, 1995). Khái niệm trọng tâm của lý thuyết là hiệu quả của quá trình lãnh đạo xảy ra khi các nhà lãnh đạo và nhân viên có thể phát triển các mối quan hệ lãnh đạo trưởng thành (quan hệ đối tác) (Graen & Uhl-Bien, 1991).
LMX gợi ý rằng các nhà lãnh đạo phát triển một mối quan hệ trao đổi với cấp dưới và chất lượng của các mối quan hệ trao đổi này ảnh hưởng đến trách nhiệm, quyết định của cấp dưới và khả năng tiếp cận các nguồn lực và kết quả công việc (Degula, 1998). Mối quan hệ lãnh đạo nhân viên (LMX) đề cập đến tầm quan trọng của người lãnh đạo trong việc định hình thái độ làm việc và kết quả công việc của nhân viên. LMX dựa trên lý thuyết trao đổi xã hội của Homans (1961) cho rằng mọi người tìm cách tối đa hóa lợi ích và giảm thiểu chi phí trong quá trình trao đổi. Nếu lợi ích lớn hơn chi phí, mối quan hệ có thể tiếp tục.
Theo đó, các nhà lãnh đạo phát triển một mối quan hệ trao đổi riêng biệt với từng nhân viên (trên cơ sở qua lại/ hai chiều) và chất lượng của mối quan hệ được duy trì liên tục. Các mối quan hệ lãnh đạo nhân viên có thể có từ “chất lượng thấp” đến “chất lượng cao” (Wayne và Green, 1993). Chất lượng của mối quan hệ giữa người lãnh đạo và nhân viên phụ thuộc vào cảm nhận của người lãnh đạo về người nhân viên. Mối quan hệ chất lượng cao là khi người lãnh đạo cảm nhận rằng người nhân viên có năng lực, đáng tin cậy và có động lực (Liden và Graen, 1980).
Mối quan hệ chất lượng cao, phản ánh lòng tin, sự tôn trọng và lòng trung thành, hoặc chất lượng thấp, phản ánh sự ngờ vực, sự tôn trọng thấp và thiếu sự trung thành (Morrow et al. Theo Thomas và Lankau (2009), mối quan hệ trao đổi chất lượng cao, thường được gọi là mối quan hệ “trong nhóm”, có nghĩa là thành viên hoặc cấp dưới có thể dễ dàng tiếp cận với sự hỗ trợ của người lãnh đạo, thông tin liên quan đến công việc, phạm vi công TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 việc lớn hơn và hiệu suất công việc xếp hạng cao hơn. Mặt khác, mối quan hệ trao đổi chất lượng thấp, được gọi là mối quan hệ “ngoài nhóm”, có nghĩa là mối quan hệ hợp đồng trong đó họ tuân theo các quy tắc, chính sách và thủ tục, trong mối quan hệ này, các thành viên hoặc cấp dưới không có khả năng được thúc đẩy để đạt được nhiều hơn những gì được yêu cầu. Mối quan hệ trao đổi chất lượng thấp dựa trên kinh tế, tức là, trao đổi dựa trên các yêu cầu chính thức của hợp đồng lao động là nhân viên làm những gì họ được giao theo thỏa thuận và được trả tiền cho phù hợp.
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu tác giả sử dụng định nghĩa của Graen & Uhl- Bien (1995) rằng mối quan hệ lãnh đạo nhân viên (LMX) là một mối quan hệ được tiếp cận dựa trên người lãnh đạo, tập trung vào mối quan hệ hai chiều giữa các nhà lãnh đạo và nhân viên của họ. Sự gắn kết công việc (Work Engagement) Khái niệm gắn kết công việc được cung cấp dựa trên nghiên cứu dân tộc học của Kahn (1990) về các thành viên của một công ty kiến trúc. Ông xác định sự gắn kết công việc là "việc khai thác bản thân các thành viên trong tổ chức để họ làm việc đúng với vai trò của họ thông qua việc sử dụng và thể hiện thể chất, nhận thức và cảm xúc của bản thân trong quá trình thực hiện công việc" (Kahn, 1990). Trong khi đó, Macey và cộng sự (2009) xác định sự gắn kết công việc như là một “sự khởi động, phấn đấu, say mê, tập trung và tham gia”.
Còn Ashforth và Humphrey (1995) thì cho rằng sự gắn kết công việc liên quan đến việc đầu tư “tay, đầu, và trái tim” vào các hoạt động đầy đủ và hiệu quả. Tuy nhiên định nghĩa sự gắn kết công việc được chấp nhận nhiều nhất là từ Schaufeli và cộng sự (2002), nhóm tác giả cho rằng sự gắn kết công việc là “một trạng thái tâm trí tích cực, thỏa mãn, liên quan đến công việc, được đặc trưng bởi sức sống, sự cống hiến và sự say mê” trong khi làm việc, sẵn lòng đầu tư công sức vào công việc, và kiên trì ngay cả khi đối mặt với khó khăn. Sự cống hiến đề cập đến một cảm giác ý nghĩa, nhiệt tình, cảm hứng, niềm tự hào và thách thức. Sự say mê được đặc trưng là tập trung hoàn toàn và sâu sắc của một người trong công việc, theo đó thời gian trôi qua nhanh chóng và một người gặp khó khăn khi tách ra khỏi công việc.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Trong phạm vi đề tài nghiên cứu tác giả sử dụng định nghĩa của Schaufeli và cộng sự (2002) rằng sự gắn kết công việc là “một trạng thái tâm trí tích cực, thỏa mãn, liên quan đến công việc, được đặc trưng bởi sức sống, sự cống hiến và sự say mê” trong khi làm việc, sẵn lòng đầu tư công sức vào công việc, và kiên trì ngay cả khi đối mặt với khó khăn. Kết quả công việc (Job Performance) Motowidlo (2003) cho rằng khái niệm kết quả công việc đề cập đến tính hiệu quả của hành vi cá nhân góp phần vào mục tiêu của tổ chức. Ông cho rằng kết quả công việc là tổng giá trị mong đợi một tổ chức đạt được từ tập hợp các hoạt động của các cá nhân thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Kết quả công việc là hành động và hành vi cá nhân góp phần đạt được công việc và mục tiêu tổ chức (Rotundo và Sackett, 2002; Van Scotter và Motowidlo, 1996).
Schmitt và Chan trong Motowidlo (2003) đã phân loại kết quả công việc của nhân viên thành “sẽ làm” và “có thể làm”. Cái trước đề cập đến kiến thức, kỹ năng, khả năng và các đặc điểm khác của cá nhân cần có trong việc thực hiện một số công việc nhất định và cái sau biểu thị động lực mà cá nhân có thể có khi thực hiện công việc. Trên cùng một nền tảng, Motowidlo và Van Scotter (1994) đã chỉ ra rằng cấu trúc kết quả công việc nên bao gồm kết quả thực hiện nhiệm vụ và kết quả công việc ngoài nhiệm vụ. Cả hai cấu trúc đều bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác nhau, ví dụ như kinh nghiệm liên quan đến công việc xác định kết quả thực hiện nhiệm vụ trong khi loại tính cách cá nhân xác định kết quả công việc ngoài nhiệm vụ (Motowidlo & Van Scotter, 1994).