phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: 8 Chƣơng 1: Khái quát lịch sử phát triển mậu dịch và hoạt động giao dịch tiền tệ ở biên giới Trung - Việt Chƣơng 2. Thực trạng pháp triển của hoạt động “Ngân hàng tự phát” ở biên giới huyện Hà Khẩu Trung Quốc và Lào Cai Việt Nam Chƣơng 3. Phân tích và đánh giá về hoạt động của “Ngân hàng tự phát” 9 Chƣơng 1. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN MẬU DỊCH VÀ HOẠT ĐỘNG GIAO DỊCH TIỀN TỆ BIÊN GIỚI Trung - Việt 1.
Khái quát sự phát triển của mậu dịch Trung - Việt thời cổ đại Năm 221 trước Công nguyên, Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc, thiết lập một vương triều phong kiến tập quyền trung ương thống nhất đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. Nhà Tần phía Bắc đánh đuổi Hung Nô, xây dựng Vạn lý trường thành để bảo vệ bờ cõi của mình; nam chinh bắc chiến, thiết lập quận huyện để cai trị, sau khi Tần Thủy Hoàng thôn tính Bách Việt, đã lập thêm bốn quận Mân Trung, Nam Hải, Quý Lâm, Tượng Quận. Tượng Quận nằm ở Bắc bộ Việt Nam ngày nay, nhưng nhà Tần mệnh vận rất ngắn, sớm bị diệt vong.Nhà Hán ra đời. Vào đời Hán Vũ Đế, đời nhà Hán trong khu Lĩnh Nam thiết lập 09 quận, trong đó có Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam là ba quận hiện nay là Trung bộ và Bắc bộ Việt Nam.
Nhà Đường thay thế nhà Hán trị vì đất nước, đời Nam Bắc triều thống trị Giao Châu mấy trăm năm. Nhà Đường mới đầu đặt Giao Châu là Tổng quản phủ, sau đó lại đổi thành Giao Châu Đô đốc Phủ năm 679 lại đổi tên thành An Nam Đô Hộ Phủ thành phủ, hiện nay là Hà Nội. Năm 939, Ngô Quyền tự xưng vua, Bắc bộ Việt Nam bắt đầu độc lập với Trung Quốc. Lãnh thổ của triều Nguyên vượt quá Hán Đường.
Nửa sau thế kỷ 13, Nhà Nguyên đã ba lần tấn công xâm lược nước Đại Việt và cả ba lần đều bị thất bại. Nhưng không lâu, nhà Nguyên và nước Việt Nam lại khôi phục quan hệ truyền thống bang giao. Từ đó đến cuối Nguyên, sứ thần của hai nước đi lại thường xuyên và cũng không còn đối đầu quân sự quy mô lớn nữa. Cả hai nước duy trì mối quan hệ hòa bình và thân thiện.
Nhà Minh thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình. Sau khi, Chu Nguyên Chương lên làm Hoàng đế, An Nam [19] đã nhận cáo dụ của nhà Minh và xin nhà Minh sắc phong, thiết lập mối quan hệ của nhà Minh với nước An Nam. Mối quan hệ của Trung Quốc với các nước Đông Nam Á trong thời kỳ này là thịnh vượng nhất. 10 Mối quuan hệ ấy được hình thành từ nhà Minh duy trì cho đến thời kỳ nhà Thanh (năm 1644-1840).
Năm 1666, nhà Thanh chính thức phong Lê Duy Hỷ làm vua Đại Việt [13], từ đó nước Đại Việt định kỳ cống vật cho Nhà Thanh, mối quan hệ hòa hảo giữa hai nước duy trì hơn hai trăm năm. Nhân dân được sống trong hòa bình. Nhà Tống, mậu dịch có đường bộ và đường thủy. Mậu dịch đường thủy chủ yếu là Khâm Châu, Liêm Châu (hiện nay là huyện Hạ Phố, tỉnh Quảng Châu), từ Đại Việt đi thuyền đến, đường bộ gần phải mất nửa ngày mới đến.
Nếu từ Đại Việt đến Vĩnh An Châu (nay là Tỉnh Quảng Ninh) đến Khâm Châu thuyền phải đi mất một ngày mới đến. Khi mới bắt đầu từ Đại Việt đi thuyền đến Liêm Châu, vì đường sá xa xôi, gió biển lớn, sóng biển cao, thường hay xảy ra tai nạn, thuyền bị đắm, cho nên những thương nhân chuyển sang đi bên đường Khâm Châu. Đường mậu dịch bằng đường bộ chủ yếu là tại Vĩnh Bình Trại (nay là huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam) và Nam Giang San. Khi đó, những điểm mậu dịch này được gọi là Bãi Bác Dịch.
Bãi Bác Dịch nằm tại ngoại thành Khâm Châu Dịch Giang Đông, mậu dịch ở đây có hai loại: Một loại là mậu dịch dân gian, lượng mậu dịch không lớn, gọi là tiểu cương. Chính quyền ở đây tiến hành quan phương mậu dịch, số lượng lớn, gọi là đại cương. Dân Châu Vĩnh An (Đại Việt) sinh sống gần bờ biển nên họ sống nhờ biển, họ bắt cá, tôm, ngao và các loại hải sản để đi đổi với người Trung Quốc lấy gạo và vải. Thương nhân người Việt chuyên làm nghề mậu dịch, nếu đến Khâm Châu buôn bán, phải nộp công văn trước cho quan phủ Khâm Châu mới được từ đường biển vào Bãi Bác Dịch Khâm Châu tiến hành giao dịch, thương nhân Đại Việt và quan viên mang các hàng đến bán chủ yếu như vàng, bạc, đồng tiền, hương trầm, hương quang, hương thục, hương sinh, chân châu ngọc trai, ngà voi, sừng trâu.
Tiểu thương nhân của Tống triều thì mang giấy, bút, gạo, vải. đến giao dịch với người Việt. 11 Những thương nhân giàu có thường là người Tứ Xuyên [46], họ mang đến thổ cẩm, mua về các loại hương của Đại Việt, số lượng giao dịch có thể đạt đến hàng nghìn lạng, nhưng một năm chỉ đi lại được một lần. Hai bên mua và bán đàm phán, họ ngồi với nhau vừa uống rượu, vừa trò chuyện, vừa trả giá.
Quan phủ theo tỉ lệ 400 tiền thu 30 tiền thuế. Hai bên đều có một số gian thương, triều Tống có người bán thuốc giả, có thương nhân người Việt xảo quyệt trộn đồng vào vàng bạc, hương trầm ngâm muối, để cho nó chìm được xuống nước. Bãi Bác Dịch Thủy Bình Trại chỉ cách Đại Việt một dòng sông là thị trường giao dịch chủ yếu của đường bộ. Ở đây, mậu dịch dân gian là chủ yếu.
Giao Chỉ [15] chủ yếu có các sản phẩm là hương liệu, sừng trâu, ngà voi, vàng bạc và muối… để đổi các loại hàng vải, lụa với người Tống Triều. Huyện Vũ Duyên (nay là huyện Vũ Minh, Trung Quốc) sản xuất loại vải khổ hẹp rất được ưa chuộng. Điểm mậu dịch Nam Giang San (nay là biên giới Long Châu, Quảng Tây) là nơi mậu dịch dân gian tiến hành mậu dịch của Tô Mậu Châu Đại Việt, dân biên giới Đại Việt mang đồ thổ sản của miền núi đến đổi hàng vải, cẩm, the lụa của dân biên giới nhà Tống. Ngoài ra, còn có những mậu dịch phi pháp.
Gần biên giới Đại Việt có nơi thịnh sản mỏ vàng, thiếu lao động, đã lừa người từ Tống Triều bán sang Đại Việt để làm nô lệ, khai thác mỏ vàng. “Nam Châu khách lữ, lừa người làm nô gánh phụ, khi đến Châu Động thì trói lại mang đi bán, mỗi người bán được hai lạng vàng. Từ Châu đông lại bán đến Giao Chỉ, bán được ba lạng vàng, mỗi năm bán ra mấy trăm gần nghìn người, nếu ai có năng khiếu nghệ thuật thì bán giá gấp đôi, hiểu biết văn sách thì hơn bán được hơn hai lần nữa. Lấy khăn che mặt đi đường, đầu ngẩng lên để không nhìn thấy đường mà biết là đi đâu.
Ra khỏi nước, họ chỉ biết người chủ và phải làm nô lệ cả đời, trên trán bị khắc 4-5 chữ, đàn bà con gái thì khác chữ vào eo. Họ bị bắt giữ đánh đập nếu chạy trốn sẽ bị giết chết” [75] Ở thời nhà Nguyên, khi Đại Việt trong thời kỳ triều Trần, vì triều Trần áp dụng 12 chính sách phong tỏa, mậu dịch của hai nước Trung - Việt đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng, nhưng hai dân biên giới trên sinh hoạt vẫn cần phải đi lại trao đổi. Mậu dịch dân gian thời kỳ này vẫn được tiến hành. Hàng hóa của Đại Việt có bạc trắng, đồng, thiếc, ngà voi, lông thú, quế, cau…đổi với hàng Trung Quốc là lụa, thổ cẩm, vải, lược ngà, giấy và đồ đồng, đồ sắt.
Mậu dịch của thời Minh vẫn có đường thủy và đường bộ, vì đi đường thủy số lượng vận chuyển lớn và nhanh, thuận tiện. Họ đã mở Phường Thành, Phật Đào hai đường thủy Tao, Ninh Việt, Dung Luân hai trạm thế vận chuyển, Phật Đào, Long Môn. Huyện Linh Sơn có Long Môn, An Xuyên. Hai mã Tao, An Hà, Cơ Mu là hai trạm vận chuyển.
Thiên Mã Sao huyện Khâm châu là trạm đường thủy và đường ngựa đều đi được. Đại Việt cũng có thiết lập An Thủy Sao của Tĩnh An Châu, Đồng An trạm vận chuyển, Vạn Ninh Thủy Tao, Vạn Ninh trạm vận chuyển của huyện Vạn Ninh. Khái quát sự phát triển của mậu dịch Trung - Việt thời cận đại Bảng 1. Tình hình cửa khẩu biên giới tỉnh Quảng Tây TQ và VN Cửa khẩu Trung Quốc Cửa khẩu Việt Nam Đông Hưng Móng Cái Bằng Tượng Đồng Đăng Hữu Nghị Quan Hữu Nghị Quan Thủy Khẩu Tà Lùng Long Bang Trà Lĩnh Động Trung Hoành Mô Ái Điểm Chi Ma Bình Nhi Quan Binh Nhi Quan Khoa Giáp Hạ Lang Đo Lông Xin Mần Nhạc Vu Pò Peo Bình Mãng Sóc Giang 13 Nhà Thanh từ Trung Quốc sang Việt Nam bằng đường bộ chủ yếu qua 7 con đường, ở tỉnh Quảng Tây có 5 đường đi.
Con đường thứ nhất là từ Bằng Tường, Quảng Tây thông qua thị Trấn Nam Quan (nay là Hữu Nghị Quan), đi vào Văn Uyên, Việt Nam (nay là Đồng Đăng, tỉnh Lạng Sơn Việt Nam). Đây là đường chỉ dùng để vận chuyển đồ cống cho triều đình thương khách dân gian không được đi lại. Đường thứ hai là từ Bằng Tường, Quảng Tây đi sang Văn Uyên, Thoát Lãng, Lạng Sơn. Đường thứ ba là từ Phủ Tư Minh (nay là huyện Ninh Minh) qua Ma Thiên Lĩnh, qua Tư Linh, Lộc Bình Nhì Châu đến Việt Nam.
Đường thứ bốn là từ Dật Long Châu Bình (sau gọi là Quan, nay thuộc thành phố Bằng Tường) sang Thất Uyên Châu Việt Nam. Đường thứ năm là Quan Long Khẩu của Long Châu sang Đạt Long, Việt Nam. Trong địa phận của tỉnh Vân Nam có hai đường đi: đường thứ nhất là Từ Mông Tự qua Liên Hoa Than đi sang Trình Lan động Việt Nam; đường thứ hai là từ Dật Hà Dương sang Việt Nam. Trước thời kỳ Càn Long (1736-1795) mậu dịch Trung - Việt đóng cửa.
Trong thời kỳ Càn Long, theo yêu cầu của vua Việt Nam, Nguyễn Quang Bình, mới bắt đầu hồi phục thương mại mậu dịch. Thời kỳ Dân Quốc, tiền lưu thông trên thị trường rất phức tạp, chế tạo của Pháp lưu thông tại Việt Nam là đồng tiền xu Pháp Quang, tiền giấy Pháp giấy, còn người Anh sử dụng tại Hồng Kông là đồng tiền Cảng Dương, tiền giấy gọi là Cảng Giấy. Xưa khi Lục Vinh Đình cai quản Quảng Tây và năm 1918 phát hành đồng tiền và tiền giấy “tiền Lão Quế” [31], dân biên giới gọi là “tiền Lão Lộc”. Năm 1932, Lục Vinh Đình lại tiếp tục phát hành “tiền Quế”.
Có hai loại tiền: tiền đồng xu và tiền giấy, đồng thời, còn lưu thông nhiều loại tiền khác.