Tổng quan nghiên cứu

Hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu đang đẩy nhanh tốc độ dâng cao của mực nước biển với mức tăng đo đạc qua vệ tinh giai đoạn 1993–2019 đạt 95,7 mm, đe dọa trực tiếp đến cuộc sống của hơn 600 triệu người sinh sống tại các vùng duyên hải trũng thấp có cao độ dưới 10 mét. Đối với các quốc gia ven biển, sự biến đổi của mực nước biển không chỉ thuần túy là thách thức về mặt sinh thái và kinh tế mà còn trực tiếp đe dọa đến cấu trúc pháp lý xác định chủ quyền trên biển. Vấn đề nghiên cứu cốt lõi của đề án tập trung phân tích tác động của mực nước biển dâng tới các phương pháp xác định đường cơ sở theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), từ đó liên hệ thực tiễn và tìm kiếm giải pháp ứng phó cho hệ thống đường cơ sở của Việt Nam.

Mục tiêu cụ thể của công trình là làm rõ cơ chế pháp lý điều chỉnh ba loại đường cơ sở gồm đường cơ sở thông thường, đường cơ sở thẳng và đường cơ sở quần đảo trước các biến đổi địa hình bờ biển; đồng thời giải quyết mâu thuẫn giữa tính biến động của ngấn nước triều và yêu cầu ổn định của ranh giới quốc gia. Phạm vi nghiên cứu bao quát chuỗi dữ liệu thực nghiệm hải văn và pháp lý quốc tế từ năm 1900 đến năm 2024, cùng các kịch bản biến đổi khí hậu dự báo đến năm 2050 và năm 2100 trên toàn dải bờ biển dài hơn 3.260 km của Việt Nam. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện chính sách phân định biển, bảo vệ quyền lợi quốc gia khi kịch bản nước dâng 100 cm có nguy cơ làm ngập 47,29% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long và 13,20% diện tích Đồng bằng sông Hồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự đối chiếu giữa hai trường phái lý thuyết pháp lý biển quốc tế then chốt: học thuyết "Đất thống trị biển" (Land dominates the sea) và học thuyết "Ranh giới biển ổn định" (Stable maritime boundaries theory). Trường phái thứ nhất gắn liền với nguyên lý ranh giới biển lưu động (ambulatory baselines), cho rằng phạm vi vùng biển phải luôn bám sát theo sự thay đổi vật lý của ngấn nước triều thấp nhất dọc bờ biển. Ngược lại, trường phái thứ hai nhấn mạnh tính tối thượng của sự ổn định trật tự pháp lý quốc tế, bảo lưu hiệu lực của các tọa độ hải đồ đã nộp lưu chiểu tại Liên Hợp Quốc bất chấp sự dịch chuyển thực địa.

Bên cạnh đó, đề án vận dụng các khái niệm nền tảng trong UNCLOS 1982 bao gồm: Đường cơ sở thông thường (Điều 5), Đường cơ sở thẳng (Điều 7), Đường cơ sở quần đảo (Điều 47), Bãi cạn lúc nổi lúc chìm (Điều 13) và Quy chế đảo (Điều 121). Về mặt kỹ thuật trắc địa, nghiên cứu ứng dụng hai chuẩn chuẩn thủy triều quốc tế là Mực nước triều kiệt trung bình (Mean Low-Water Springs - MLWS) và Mực nước triều thiên văn thấp nhất (Lowest Astronomical Tide - LAT) để định vị ngấn nước chuẩn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng gồm các báo cáo đánh giá khí hậu từ lần thứ 1 đến lần thứ 6 của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC AR1–AR6), số liệu quan trắc viễn thám giai đoạn 1900–2024 của Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Hoa Kỳ (NASA), cùng Kịch bản biến đổi khí hậu cập nhật năm 2020 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 11 điểm cơ sở trên đường cơ sở thẳng của Việt Nam (từ điểm A1 tại Hòn Nhạn đến điểm A11 tại đảo Cồn Cỏ) và mẫu điển cứu gồm 6 phán quyết quốc tế tiêu biểu của Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) cùng Tòa Trọng tài UNCLOS. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) được áp dụng nhằm tập trung vào các thực thể địa lý có nguy cơ ngập lụt cao nhất và các án lệ định hình luật tục quốc tế như Vụ Ngư trường Anh - Na Uy 1951, Vụ Qatar - Bahrain 2001, Vụ Guyana - Suriname 2007, Vụ Nicaragua - Honduras 2007, Vụ Bangladesh - Ấn Độ 2014 và Vụ kiện Biển Đông 2016. Lý do lựa chọn kết hợp phương pháp phân tích quy phạm luật học so sánh, tổng hợp logic và đối chiếu án lệ thực tế là nhằm giải quyết thấu đáo khoảng trống giữa quy định tĩnh tại của điều ước quốc tế với sự biến động động học của tự nhiên.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ gia tăng mực nước biển toàn cầu đã tăng từ 1,6 mm/năm trong giai đoạn 1900–2018 lên mức 3,4 mm/năm trong giai đoạn hiện nay. Trong đó, hiện tượng giãn nở nhiệt và băng tan tại Greenland cùng Nam Cực chiếm tới 66,7% tổng lượng nước dâng quan sát được, trực tiếp làm biến đổi ngấn nước triều thấp nhất trên diện rộng.

Thứ hai, mực nước biển dâng đe dọa trực tiếp tiêu chí "thực thể vật chất rõ ràng" của các điểm cơ sở thẳng. Theo kịch bản dự báo năm 2100, mực nước biển tại Biển Đông tăng từ 53 cm đến 57 cm sẽ làm ngập vĩnh viễn nhiều bãi cạn lúc nổi lúc chìm vốn được chọn làm điểm tựa đường cơ sở theo khoản 4 Điều 7 UNCLOS 1982, biến chúng thành các bãi ngầm dưới mặt nước và tước bỏ tư cách điểm mốc pháp lý.

Thứ ba, đối với các quốc gia quần đảo, sự thu hẹp diện tích đất tự nhiên do ngập lụt có nguy cơ phá vỡ nghiêm trọng tỷ lệ diện tích nước trên đất quy định trong khoảng từ 1:1 đến 9:1 theo Điều 47 UNCLOS 1982. Điển hình như tại Maldives, nơi 80% diện tích đảo chỉ cao dưới 1 mét so với mực nước biển, nước dâng sẽ làm mất tư cách quốc gia quần đảo nếu diện tích đất bị thu hẹp quá mức.

Thứ tư, tại Việt Nam, sự suy giảm đường bờ biển dẫn tới nguy cơ ngập 47,29% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long và 17,15% diện tích Thành phố Hồ Chí Minh, gây thiệt hại ước tính khoảng 17 tỷ USD cho ngành trồng trọt vào năm 2030 và làm dịch chuyển sâu ngấn nước triều vào phía đất liền.

Thảo luận kết quả

Sự biến động của đường bờ biển đặt ra cuộc xung đột pháp lý gay gắt giữa hai quan điểm: duy trì đường cơ sở cố định dựa trên hải đồ đã công bố hay điều chỉnh đường cơ sở lưu động theo thực địa tự nhiên. Thực tiễn xét xử quốc tế qua các phán quyết của ICJ cho thấy các cơ quan tài phán luôn ưu tiên sử dụng hải đồ chính thức đã được quốc gia công nhận làm chứng cứ pháp lý sơ bộ, nhưng sẵn sàng bác bỏ các điểm mốc nếu bên khiếu kiện chứng minh được điểm mốc đó không còn phản ánh đúng thực tế địa lý tự nhiên.

Để biểu đạt trực quan các kết quả phân tích, dữ liệu nghiên cứu có thể được tổng hợp thông qua hai công cụ trực quan chính. Thứ nhất là bảng so sánh mức độ biến thiên tọa độ của 11 điểm cơ sở Việt Nam dưới các mốc dâng 28 cm (năm 2050) và 77 cm (năm 2100), làm rõ các điểm có độ dốc thấp dễ bị nhấn chìm. Thứ hai là biểu đồ tương quan phản ánh tỷ lệ xói lở bờ biển tương ứng với từng giai đoạn gia tăng nhiệt độ đại dương từ 0,88°C lên 2,89°C, minh họa sự dịch chuyển ngấn nước triều trung bình lùi sâu vào nội địa từ 15 mét đến 45 mét.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, rà soát toàn diện và chuẩn hóa mạng lưới trắc địa hải đồ quốc gia. Bộ Tài nguyên và Môi trường cần chủ trì phối hợp với Bộ Quốc phòng hoàn thành công tác đo đạc, kiểm kê lại hiện trạng 11 điểm cơ sở thẳng của Việt Nam trước năm 2028. Hoạt động này cần áp dụng mô hình số độ cao vệ tinh (DEM) với sai số dưới 5 cm để kịp thời ghi nhận độ dịch chuyển của ngấn nước triều kiệt thấp nhất.

Thứ hai, triển khai xây dựng công trình kỹ thuật kiên cố hóa các điểm cơ sở trọng yếu. Ủy ban nhân dân các tỉnh ven biển phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đầu tư nâng cấp hệ thống kè chắn sóng, xây dựng trạm hải đăng và trạm quan trắc hải văn tại các đảo tiền tiêu then chốt như Hòn Dấu, Hòn Mê, Hòn Hải nhằm bảo toàn 100% các điểm mốc trước kịch bản nước dâng 28 cm vào năm 2050.

Thứ ba, xây dựng và hoàn thiện lập trường pháp lý quốc tế về bảo toàn đường cơ sở. Bộ Ngoại giao cần đại diện Việt Nam tham gia tích cực vào các diễn đàn của Ủy ban Luật pháp Quốc tế (ILC), thúc đẩy việc thông qua nghị quyết công nhận nguyên tắc cố định đường cơ sở và ranh giới biển đã lưu chiểu tại Liên Hợp Quốc trước năm 2026, tách biệt hiệu lực pháp lý của đường cơ sở khỏi tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu.

Thứ tư, hiện đại hóa hệ thống quan trắc hải văn và cảnh báo sớm. Cục Khí tượng Thủy văn cần hoàn thành lắp đặt mạng lưới 25 trạm đo mực nước biển tự động dọc bờ biển 3.260 km, tích hợp công nghệ trí tuệ nhân tạo để giám sát biến động đường bờ với độ phân giải dưới 10 mm trước năm 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất bao gồm các nhà hoạch định chính sách, cán bộ ngoại giao và chuyên viên pháp lý tại Bộ Ngoại giao cùng Ủy ban Biên giới Quốc gia. Luận văn cung cấp luận cứ bảo vệ quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng biển rộng hơn 1.000.000 km² của Việt Nam trong các đàm phán song phương và đa phương.

Nhóm thứ hai là các nhà quản lý tài nguyên môi trường và quy hoạch đê điều tại 28 tỉnh, thành phố ven biển. Kết quả nghiên cứu về mức độ dâng từ 24 cm đến 77 cm là cơ sở xây dựng phương án bảo vệ 3.771 ha nuôi trồng thủy sản và khu dân cư trước nguy cơ xâm nhập mặn.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Quốc tế, Luật Biển và Biến đổi khí hậu. Đề tài cung cấp kho tư liệu chuyên sâu về 6 án lệ quốc tế điển hình và phân tích đa chiều hệ thống Điều 5, Điều 7, Điều 47 UNCLOS 1982.

Nhóm thứ tư là các kỹ sư trắc địa biển, chuyên gia hải đồ và đơn vị tư vấn công trình thủy. Tài liệu hướng dẫn chi tiết cách áp dụng chuẩn thủy triều LAT và MLWS kết hợp mô hình viễn thám trong xác lập ranh giới thực địa.

Câu hỏi thường gặp

Mực nước biển dâng tác động trực tiếp đến đường cơ sở thông thường như thế nào? Mực nước dâng làm ngấn nước triều thấp nhất dịch chuyển sâu vào đất liền. Theo báo cáo năm 2018 của Hiệp hội Luật Quốc tế, đường cơ sở thông thường có tính chất lưu động, kéo theo sự co hẹp tự động của lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế nếu quốc gia không có giải pháp kỹ thuật tôn tạo bờ biển.

Bãi cạn lúc nổi lúc chìm có bị tước tư cách làm điểm cơ sở khi nước biển dâng không? Có. Theo Điều 13 UNCLOS 1982, nếu mực nước biển dâng từ 24 cm đến 77 cm nhấn chìm hoàn toàn bãi cạn khi triều kiệt mà nơi đó không có công trình hải đăng thường xuyên nhô trên mặt nước, thực thể này sẽ trở thành bãi ngầm và mất hoàn toàn giá trị xác định đường cơ sở thẳng.

Học thuyết đường cơ sở cố định mang lại lợi ích pháp lý gì cho quốc gia ven biển? Học thuyết này khẳng định các tọa độ địa lý của đường cơ sở đã công bố và gửi lưu chiểu tại Liên Hợp Quốc vẫn duy trì giá trị vĩnh viễn. Điều này giúp quốc gia bảo toàn nguyên vẹn hàng triệu km² diện tích biển và ngăn chặn tranh chấp phân định biên giới phát sinh do địa hình thay đổi.

Các quốc đảo san hô đối mặt với thách thức pháp lý nào lớn nhất khi biển dâng? Tại các đảo quốc như Maldives với 80% diện tích cao dưới 1 mét, nước dâng làm mất cấu trúc đảo tự nhiên theo Điều 121 UNCLOS 1982, đồng thời phá vỡ tỷ lệ diện tích nước trên đất tối đa 9:1 theo Điều 47, đe dọa trực tiếp tới tư cách quốc gia quần đảo trong luật pháp quốc tế.

Việt Nam cần ưu tiên giải pháp nào để bảo vệ hệ thống đường cơ sở quốc gia? Việt Nam cần kết hợp song song việc kiên cố hóa công trình kỹ thuật tại 11 điểm cơ sở thẳng then chốt và thúc đẩy giải pháp ngoại giao pháp lý đa phương, bảo đảm giữ vững vùng nội thủy và lãnh hải trước nguy cơ ngập 47,29% diện tích khu vực phía Nam.

Kết luận

  • Biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng đặt ra thách thức an ninh phi truyền thống gay gắt, đe dọa trực tiếp đến tính ổn định của hệ thống đường cơ sở và ranh giới biển toàn cầu theo UNCLOS 1982.
  • Công trình đã làm rõ khoảng trống pháp lý giữa nguyên tắc đường cơ sở lưu động bám sát thực địa và yêu cầu ổn định lâu dài của các đường biên giới trên biển.
  • Đề án lượng hóa nguy cơ xói lở, ngập chìm đối với 11 điểm mốc cơ sở của Việt Nam dọc theo 3.260 km bờ biển dưới các kịch bản nước dâng từ 24 cm đến 77 cm.
  • Hệ thống giải pháp toàn diện giai đoạn 2024–2030 được đề xuất, kết hợp chặt chẽ giữa củng cố kỹ thuật công trình, hoàn thiện pháp luật nội địa và đàm phán ngoại giao quốc tế.
  • Trước nguy cơ ngập lụt tới 47,29% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long khi nước dâng 100 cm, các cơ quan chức năng cần khẩn trương hiện đại hóa mạng lưới trắc địa hải văn để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo quốc gia.