Chương 1: Cơ sở lý luận của van đề nghiên cứu Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA VAN DE NGHIÊN CỨU Trong chương này, nghiên cứu sẽ điêm luận tình hình nghiên cứu về môi quan hệ bạn bè và lòng tự trọng. Tổng quan về lich sử nghiên cứu về van đề 1. Nghiên cứu về mỗi quan hệ ban bè Hướng nghiên cứu dựa trên các lý thuyết tiếp cận Có nhiều lý thuyết tiếp cập được sử dụng khi nghiên cứu về mối quan hệ bạn bè. Cách tiếp cận lý thuyết nhận thức Theo lý thuyét nhận thức, trẻ em tiép thu những kiên thức và kỹ năng mới từ việc nói chuyện, chia sẻ, chơi và thảo luận cùng với nhóm bạn.
Làm việc và quan sát lẫn nhau giúp trẻ em học được những cách mới trong việc tiếp cận và giải quyết vấn đề (Kerwin & Day, 1985). Cách tiếp cận lý thuyết học tập xã hội Lý thuyết học tập xã hội cho rằng hành vi của trẻ được hình thành trong môi trường và bối cảnh trẻ em đang sống. Hành vi của trẻ em được hình thành thông qua quá trình quan sát, bắt chước và làm mẫu từ các bạn của mình. Qua đó, các em phát triển các kỹ năng và ứng xử xã hội phù hợp (Pratt và cộng sự, 2010; Durmus Saltali và cộng sự, 2018).
Ở giai đoạn thiếu niên, trẻ em dành phần nhiều thời gian ở trường học và với bạn bè, nên bạn bè đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của trẻ, sự tương tác của học sinh với bạn bẻ đặt nền tảng cho việc phát triển các kỹ năng xã hội của các em. Vì vậy, mối quan hệ của học sinh với bạn bẻ được xem xét khi đo lường các kỹ năng xã hội của các em. Cách tiếp cận lý thuyết sinh thái Theo quan điểm của lý thuyết sinh thái, các hệ thống xung quanh các nhân ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Và việc hỗ trợ các kỹ năng giao tiếp cá nhân góp phần hình thành các mối quan hệ bạn bè; tương tự vậy, mối quan hệ bạn bè mà trẻ thiết lập có thé anh huong dén méi quan hé cha me va con cái (Cabrera va cộng sự, 2014).
Tương tác với bạn bè có ý nghĩa quan trọng cho sự phát triển trí tuệ và cảm xúc xã hội. Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng mối quan hệ bạn bè gần gũi và hài hòa giúp tăng cường sự điều chỉnh về mặt xã hội và học tập của thiếu niên. Sự phát triển và duy trì tình bạn đã được chứng minh là có mối liên hệ với khả năng nhận thức (Buhrmester, 1990), lòng tự trọng (Raboteg-Saric & Sakic, 2014; Song và cộng sự, 2009; Pinheiro Mota & Matos, 2013) va két quả hoc tap (Morelli và cộng sự, 2023). Những đứa trẻ có nhiều bạn nhất trong lớp có nhiều tiễn bộ trong học tập, xếp loại học tập cao trong khi những đứa trẻ không được chấp nhận bởi bạn bè thì ít có thiện cảm hơn và có thành tích thấp hơn.
Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng mục tiêu và động lực học tập bị ảnh hưởng bởi sự tương tác với bạn bè (Morelli và cộng sự, 2023). Một nghiên cứu ở học sinh tiêu học đã phát hiện ra rằng bạn bè giống nhau hơn về các khía cạnh năng lực bản thân, động lực, tiêu chuẩn học tập và sở thích làm những công việc mang tính thử thách hơn so với những người không phải là bạn bè (Altermatt & Pomerantz, 2003). Cách tiếp cận theo lý xã hội hóa nhóm Lý thuyết xã hội hóa nhóm cho rằng khi trẻ lớn lên, quá trình hòa nhập xã hội bên ngoài gia đình diễn ra trong các nhóm bạn bè đồng trang lứa ngày càng trở thành yếu tố quyết định quan trọng đối với sự phát triển nhân cách của thanh thiếu niên (Reitz và cộng sự, 2014) Tầm quan trọng của các mối quan hệ bạn bè tăng mạnh trong quá trình chuyển tiếp từ thời thơ ấu sang tuôi thiếu niên. Khoảng 75% trẻ mẫu giáo thiết lập mối quan hệ bạn bè, con số này tăng lên 80-90% ở tuổi thiếu niên khi thanh thiếu niên bước vào vòng bạn bè lớn hơn trong quá trình chuyên tiếp lên trung học cơ sở (Hinde và cộng sự, 1985).
Khi thanh thiếu niên chuyên sự chú ý từ cha mẹ sang bạn bè, bạn bè sẽ trở thành người có ảnh hưởng quan trọng cho sự phát triển của các em (Harter, 2012). Điều này được thể hiện ở việc thiếu niên dành nhiều thời gian hơn cho các nhóm bạn, quan tâm đến việc đạt được sự chấp nhận của những người bạn. Nghiên cứu theo chiều dọc của Reitz và cộng sự (2014) đã chỉ ra rằng khả năng được yêu thích bởi các bạn cùng lớp dự đoán sự phát triển lòng tự trọng của thiếu niên. Cách tiếp cận theo lý thuyết gắn bó Lý thuyết gắn bó tiết lộ mối quan hệ giữa sự thân mật và sự gắn bó (Bauminger và cộng sự, 2008).
Lý thuyết gan bó cho rang su gan bó với bạn bè đồng trang lứa quan trọng trong việc phát triển những khác biệt cá nhân và mối quan hệ gắn bó ảnh hưởng đến thái độ của thanh thiếu niên đối với tình bạn thân thiết (Armsden & Greenberg, 1987). Mức độ tình bạn, có một người bạn thân nhất, su chap nhan cua ban bé va su cam kết của bạn bè là những dấu hiệu cho thấy tình bạn bền chặt. Lý thuyết này lập luận rằng những học sinh gắn bó an toàn với bạn bè thì thân thiện hơn và ít hung hăng, phá hoại và nhút nhát hơn so với những học sinh có gắn bó không an toàn (Dykas và cộng sự, 2008). Ở tuôi thiếu niên, cá nhân bắt đầu hướng về các bạn cùng lứa tuổi nhiều hơn.
Nghiên cứu về mặt thực tiễn cũng chỉ ra rằng những học sinh có gắn bó an toàn có nhiều sự tin tưởng, vui vẻ, thân thiện và gan gũi hơn so với những người có gan bó không an toàn (Karreman & Vingerhoets, 2012; Mikulincer & Shaver, 2005). Do đó, những hoc sinh có gắn bó an toàn có một cái nhìn tích cực về bản thân nhờ nhận thức về môi trường xã hội đáng tin cậy. Ngoài các cách tiếp cận trên, các nhà nghiên cứu còn sử dụng các lý thuyết khác trong việc nghiên cứu về mối quan hệ bạn bè. Lý thuyết thâm nhập xã hội mô tả quá trình một mối quan hệ từ xa lạ đến thân mật hơn (Carpenter & Greene, 2015).
Lý thuyết tương đồng — hấp dẫn giải thích sự hình thành mối quan hệ thông qua việc kết giao với những người có chung suy nghĩ, quan điểm hoặc sở thích để giảm tránh sự xung đột giữa các cá nhân (Mitteness và cộng sự, 2016). Cụ thé, bạn bé có xu hướng giống nhau ở nhiều đặc điểm như tuổi tác, chủng tộc, giới tính, địa vị xã hội và tính cách (Ilmarinen và cộng sự, 2016). Ly thuyết trao đối xã hội nhìn nhận mối quan hệ dựa trên chi phí — phần thường và có qua có lại (Laursen & Hartup, 2002). Hướng nghiên cứu về mối quan hệ bạn bè đối với đời sống tâm lý của thiếu niên Tình bạn là nguồn hỗ trợ xã hội quan trọng cho thanh thiếu niên.
Trong các nghiên cứu trước các nhà nghiên cứu đã chỉ ra mối tương quan giữa mối quan hệ bạn bè và các biến số về mặt tâm lý như trạng thái lành mạnh về tâm lý, cảm nhận hạnh phúc, sự hài lòng trong cuộc sống, bắt nạt học đường (Demir và cộng su, 2007; Diener & Seligman, 2002; Lyubomirsky va cộng sự, 2005, Tran Văn Công & Nguyễn Thị Hoài Phương, 2018). Theo Lyubomirsky và cộng sự (2005), mối quan hệ bạn bè và số lượng bạn có tương quan thuận mạnh đối với cảm nhận hạnh phúc chủ quan. Điêu này có nghĩa là học sinh thân thiét với bạn bè và có nhiêu bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc hơn so với những học sinh ít gắn bó và không có bạn bè. Kết quả cho thay có một tác động tích cực từ sự hỗ trợ của bạn bè đối với việc phát triển các nhiệm vụ trên.
Xung đột với bạn bè xảy ra có liên quan tiêu cực đến việc đạt thành tích tại trường học và tác động tích cực đến việc hẹn hò. Sự hỗ trợ từ bạn bè có thể giúp thanh thiêu niên đôi mắt với các nhiệm vụ trong quá trình phát triên. Ngược lại, tình bạn có đặc điểm tiêu cực có ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tỉnh thần và hạnh phúc của thanh thiếu niên (Kong và cộng sự, 2022; Schwartz-Mette và cộng sự, 2020; Asher & Weeks, 2013). Cu thể, nghiên cứu của Kong va cộng sự (2022) có sự tham gia của 861 thiếu niên Trung Quốc kiểm tra mối liên hệ giữa chất mối quan hệ bạn bè và stress, lo âu, trầm cảm.
Kết quả chỉ ra rằng xung đột trong tình bạn có tương quan thuận với stress, lo âu, trầm cảm. Điều này có nghĩa là những học sinh có thường xuyên mâu thuẫn với bạn bè có mức độ stress, lo âu, trầm cảm cao hơn so với những học sinh có mối quan hệ hòa đồng với bạn bè. Như vậy, có thé thay rằng tình bạn có đặc điểm tiêu cực (như thường xuyên xung đột với bạn bè) có thé là tác nhân gây căng thắng cho sức khỏe tinh than và hạnh phúc của thanh thiếu niên. Schwartz-Mette và cộng sự (2020) cũng cho rằng khi những nhu cầu trong mối quan hệ bạn bè không được đáp ứng, thanh thiếu niên dé bị gặp các van dé tâm lý.
Điều này có thé dẫn đến các triệu chứng tram cảm liên quan đên sự tuyệt vọng va bat lực. 10 Nhiều nghiên cứu đã tìm hiểu mối liên hệ giữa tình bạn và sự cô đơn (Cacioppo và cộng sự, 2015; Asher & Weeks, 2013). Só lượng bạn bè, chất lượng tình bạn tích cực và chất lượng tình bạn tiêu cực đều được cho là có liên quan đến các triệu chứng trầm cảm và sự cô đơn (Schwartz-Mette và cộng sự, 2020). Khi nhu cầu này không được đáp ứng, cảm giác sự cô lập và cô đơn về mặt xã hội có thé phát triển.
Nghiên cứu chi ra rằng học sinh bị từ chối hoặc không thích bởi các bạn cùng lớp nhìn chung cô đơn hơn so với các học sinh được chấp nhận và yêu thích bởi các bạn cùng lớp (Boivin và cộng sự, 1995). Tương tự vậy, nghiên cứu tiếp tục chỉ ra rằng có ít bạn bè và tình bạn kém chất lượng cũng gắn liền với sự cô đơn (Asher & Paquette, 2003; Asher & Weeks, 2013).