CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu về hoạt động logistics và logistics xanh Vào đầu thế kỷ 20, thuật ngữ logistics bắt đầu được sử dụng trong lĩnh vực kinh tế và trong văn học kinh tế. Vào đầu những năm 70, các chuyên gia đã bắt đầu áp dụng lý thuyết logistics vào thực tiễn. Trong cuốn sách “Logistics and Supply Chain Management, 4th edition” (Christopher, 2011, tr.2), thuật ngữ này được định nghĩa là “Quá trình quản lý chiến lược việc mua sắm, vận chuyển và lưu trữ vật tư, linh kiện, thành phẩm hoàn chỉnh và luồng thông tin có liên quan đi kèm giữa các doanh nghiệp thông qua tổ chức và các kênh tiếp thị của họ theo cách tôi đa hóa lợi nhuận hiện tại và tương lai thông qua chi phí”.
Logistics là tóm tắt của tất cả các hoạt động cho quản lý và thực hiện toàn diện các dòng vật liệu trong quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa. Để đạt được hiệu suất cao nhất với tối đa hóa năng suất sản xuất, logistics, từ các cấp độ chiến lược, chiến thuật và hoạt động, đề xuất các hành động tương ứng nhằm đạt được kết quả yêu cầu bằng cách sử dụng tất cả các phương tiện khoa học và công nghệ, kinh tế và khoa học máy tính có sẵn. Mục đích của logistics là tạo ra một dòng vật liệu thống nhất, tích hợp, tối ưu hóa, được tạo ra từ các phần khác nhau của hệ thống theo cách đảm bảo một sự trao đổi liên tục của hàng hóa và dịch vụ. Hiện nay Logistics đã trở thành một phần thiết yếu cho sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB), Logistics hiệu quả đề cập đến việc giảm thiểu chi phí vận chuyển, lưu trữ và chuyển nhượng sản phẩm đến người tiêu dùng từ các công ty. Đặc biệt những năm gần đây, trọng tâm của các ngành là giảm thiểu lượng khí thải carbon và điều chỉnh các hoạt động Logistics nhằm thúc đẩy sự bền vững và giảm tác động lâu dài. Dựa trên tổng quan các công trình nghiên cứu trước đây, nhóm tác giả nhận thấy một số hướng nghiên cứu chính mà các nhà nghiên cứu quốc tế và trong nước đang triển khai như sau: Thứ nhất, nghiên cứu về mối quan hệ giữa logistics với các yếu tố môi trường: Bằng mô hình GMM, Liu Jie, Qi Yuan và các cộng sự (2018) đã nghiên cứu mối liên hệ giữa hiệu quả hoạt động logistics và lượng khí thải CO2 ở 42 quốc gia châu Á “The relationship between environment and logistics performance: Evidence from Asian countries”. Sử dụng dữ liệu thứ cấp trong giai đoạn 2007–2016, nhóm tác giả đã đưa ra bằng chứng cho thấy hiệu quả hoạt động logistics và các chỉ số môi trường có liên quan chặt chẽ với nhau ở các quốc gia châu Á.
Tần suất vận chuyển hàng đến người nhận hàng trong thời gian giao hàng theo lịch trình không hiệu quả sẽ làm tăng lượng khí thải CO2, 7 mặt khác cải thiện chỉ số LPI của lô hàng quốc tế giúp giảm đáng kể ô nhiễm môi trường. Điều này chứng thực vai trò của các yếu tố cấu thành nên LPI (theo dõi và truy tìm, chất lượng và năng lực dịch vụ, chất lượng cơ sở hạ tầng và hiệu quả của hải quan) có tác động giảm thiểu ô nhiễm mạnh mẽ. Cũng thông qua mô hình GMM, bài nghiên cứu "Green supply chain management, economic growth and environment: a GMM based evidence" của Khan S.R và các cộng sự đã xây dựng một mẫu không đồng nhất gồm 43 nền kinh tế (các quốc gia có thu nhập thấp, trung bình và cao). Kết quả của mô hình nhấn mạnh rằng các hoạt động logistics tạo ra một lượng phát thải carbon đáng kể, cho thấy lĩnh vực logistics vẫn phụ thuộc nhiều vào nhiên liệu hóa thạch.
Việc tiêu thụ năng lượng không tái tạo tăng cao này dẫn đến những tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế. Ngược lại, việc chuyển đổi từ nguồn năng lượng hóa thạch sang nguồn năng lượng tái tạo tác động tích cực đến quá trình tăng trưởng kinh tế. Hasan Ağan Karaduman và cộng sự (2020) đã sử dụng mô hình dữ liệu bảng tác động cố định để loại bỏ nguồn nội sinh có thể có bằng cách kiểm soát các yếu tố không thể quan sát được và không thay đổi theo thời gian, qua đó phân tích mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động logistics và lượng khí thải carbon dioxide ở các nước Balkan, kết quả chỉ ra rằng, nếu chỉ số LPI càng cao thì lượng khí thải cacbon càng ít, nói cách khác, có mối quan hệ tích cực giữa hiệu suất hậu cần và hiệu suất carbon của các quốc gia Balkan được lấy mẫu. Thứ hai, nghiên cứu về cách tiếp cận đo lường hiệu quả logistics xanh Hiện nay nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng hoạt động logistics xanh góp phần tích cực vào hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường thông qua việc quản lý nó một cách hiệu quả và năng suất.
Là một công cụ hữu ích để đánh giá hiệu quả hoạt động của ngành logistics từ góc độ bền vững, sự kết hợp giữa LPI và các yếu tố môi trường đã được một số nhà nghiên cứu sử dụng, đặc biệt trong đó GLPI được đề xuất là một chỉ số tốt về hiệu quả hậu cần xanh của một quốc gia, cho thấy tác động của khả năng cạnh tranh logistics của quốc gia đó đối với môi trường. Các nghiên cứu lý thuyết về tác động của Logistics đến các hoạt động kinh tế nói chung khá đa dạng, tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu này phần lớn dựa vào chỉ số LPI (Logistics Performance Index) được tính toán bởi Ngân hàng Thế giới (World Bank - WB) (Chakraborty & Mukherjee, 2016; Marti et al., 2014; Puertas et al., 2014; Uca et al. 8 Do đó, mới chỉ phản ánh các hoạt động logistics đơn thuần mà chưa tính đến các yếu tố nền tảng như phát thải khí nhà kính và tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch. Trong khi logistics xanh ngày càng được quan tâm hơn trong thời gian gần đây, các tài liệu nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhân tố này đối với thương mại khu vực còn rất hạn chế trên thế giới, chủ yếu đến từ những khó khăn trong việc đo lường hiệu quả logistics xanh.
Trên cơ sở 6 chỉ số thành phần của chỉ số LPI truyền thống, một số tác giả đã nỗ lực xây dựng chỉ số GLPI (Green Logistics Performance Index) bằng việc tích hợp thêm vào chỉ số LPI truyền thống với các chỉ số về môi trường như chỉ số CO2 (Le và cộng sự, 2022; Wang và cộng sự, 2018) hay nhóm chỉ số N20, CH4, Fgas, Fossil (Fan và cộng sự, 2022) để chỉ ra tác động tích cực của logistics xanh đến khối lượng xuất khẩu của nhóm nước thuộc cùng một khu vực thương mại. Một số nghiên cứu trước đây về logistics xanh được lấy cảm hứng từ việc mở rộng lưu lượng xe tải trong thời kỳ xe tải gây ra mức độ ô nhiễm ở mức, từ đó McKinnon và các công sự vào năm 2015 đã đề xuất một phương pháp nghiên cứu logistics xanh (GL) để nắm bắt mối liên hệ giữa hoạt động logistics và chất lượng môi trường. Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ giới hạn ở lĩnh vực vận tải hàng hóa và chưa mở rộng ra những lĩnh vực khác. Trong khuôn khổ bài nghiên cứu "Measuring supply chain efficiency from a green perspective" nhóm tác giả Hokey Min và Ilsuk Kim năm 2011 cũng đã xây dựng chỉ số hiệu suất hậu cần xanh (green logistics performance index) (GLPI).
Đây là một phân tích vĩ mô đo lường hiệu quả chuỗi cung ứng xanh của một quốc gia bằng cách kết hợp chỉ số hiệu suất logistics (LPI) và chỉ số hiệu quả môi trường (EPI), bài viết này sử dụng dữ liệu thứ cấp do Ngân hàng Thế giới và Diễn đàn Kinh tế Thế giới công bố. Đây là nỗ lực đầu tiên nhằm đo lường hiệu quả chuỗi cung ứng của một quốc gia từ góc độ xanh bằng cách đề xuất GLPI kết hợp LPI và EPI và cũng là tài liệu đầu tiên trong giới học thuật quản lý chuỗi cung ứng sử dụng cả LPI và EPI. Tổng quan nghiên cứu về logistics và logistic xanh liên quan đến thương mại quốc tế Sự cạnh tranh ngày càng tăng trong môi trường kinh doanh toàn cầu đã làm cho logistics trở thành một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định hiệu quả cạnh tranh của một quốc gia (Martí & cộng sự, 2014). Tầm quan trọng của logistics và tác động của nó đối với thương mại quốc tế đã thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu (Behar & Manners, 2008; Puertas & cộng sự, 2014).
Behar & Manners (2008) đánh giá tác động của hiệu suất logistics (LPI) đến xuất khẩu của hơn 100 quốc gia. Các tác giả này kết luận LPI có tác động tích cực đến thương mại quốc tế của các nước này. Đặc biệt, xuất khẩu 9 của các quốc gia không giáp biển phụ thuộc vào logistics của các nước láng giềng. Các tác giả này cũng chỉ ra rằng việc nâng cao chất lượng hoạt động logistics có thể làm giảm tác động của khoảng cách đến thương mại quốc tế, nhưng không loại bỏ chúng.
Korinek & Sourdin (2011) sử dụng mô hình trọng lực mở rộng để đánh giá tác động của logistics đến thương mại quốc tế của những hàng hóa được vận chuyển bằng đường biển và đường hàng không. Tác động khác nhau của cơ sở hạ tầng logistics đối với các nước có thu nhập thấp, trung bình và cao hơn cũng được phân tích. Các tác giả này kết luận logistics thúc đẩy gia tăng ngoại thương, đặc biệt là đối với các quốc gia gặp bất lợi do ở xa các thị trường chính. Kết quả ước lượng cho thấy việc nâng cao chất lượng dịch vụ logistics sẽ làm giảm chi phí vận chuyển hàng hóa và sau đó nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu của một quốc gia.
Kết quả nghiên cứu của họ cũng khẳng định rằng logistics có ảnh hưởng đến cả khối lượng và giá trị xuất khẩu Gani (2017) phân tích tác động của hoạt động logistics đến xuất nhập khẩu của 60 quốc gia từ 2007 đến 2014. Nghiên cứu này mô hình hóa thương mại quốc tế là một hàm của GDP, tỷ giá, tự do hóa thương mại, khoảng cách và chỉ số hiệu suất logistics. Kết quả ước lượng từ phương trình xuất nhập khẩu tiêu chuẩn cho thấy hoạt động logistics tổng thể có tương quan tích cực và có ý nghĩa thống kê với cả xuất khẩu và nhập khẩu. Phân tích cũng được mở rộng bằng cách ước lượng xem các thành phần của chỉ số hiệu suất logistics có quan trọng đối với thương mại quốc tế hay không.