Chương 1. Giới thiệu Chƣơng này bao gồm nội dung chính nhƣ lý do nghiên cứu, câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu. Cơ sở lý thuyết về tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế Chƣơng này bao gồm các nội dung chính nền tảng cơ sở lý thuyết về lạm phát, tăng trƣởng kinh tế, tác động của lạm phát đến tăng trƣởng kinh tế và các biến số kinh tế 5 vĩ mô khác tác động đến tăng trƣởng. Chƣơng này giới thiệu sơ lƣợc một số nghiên cứu trƣớc đây và so sánh điểm khác về đề tài nghiên cứu của tác giả so với các nghiên cứu trƣớc.
Phương pháp nghiên cứu nhằm phân tích tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế các nước Đông Nam Á Chƣơng này bao gồm các nội dung chính nhƣ trình bày quy trình thực hiện nghiên cứu, quy trình phân tích dữ liệu với mục đích tìm ra mô hình tối ƣu cho nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu và thảo luận tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế các nước Đông Nam Á Chƣơng này trình bày kết quả mô hình, thống kê mô tả, phân tích tƣơng quan mô hình nghiên cứu, kiểm định khuyết tật của mô hình để xác định kết quả cuối cùng. Kết luận và khuyến nghị cho Việt Nam nhằm nâng cao năng lực kiểm soát lạm phát và hướng đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế Chƣơng này tác giả đƣa ra những khuyến nghị cho Việt Nam nhằm kiểm soát lạm phát và hƣớng đến mục tiêu tăng trƣởng kinh tế. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT ĐẾN TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ 2.
Khái niệm về lạm phát Lạm phát là sự gia tăng mức giá chung đƣợc duy trì trong một thời gian dài trong nền kinh tế (Lipsey và Chrystal, 1995), đó là sự gia tăng liên tục trong mức giá của hàng hóa và dịch vụ dẫn đến giảm sức mua của đồng tiền. Và một vài kinh nghiệm nghiên cứu về vấn đề lạm phát cho thấy rằng, chỉ một số ngƣời dƣờng nhƣ biết về các yếu tố quyết định và tác động thực sự của lạm phát lên tăng trƣởng nền kinh tế. Samuelson và Nordhaus (1997) cũng cho rằng “lạm phát biểu thị một sự tăng lên trong mức giá chung. Tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ thay đổi của mức giá chung”.
Trên cơ sở đó, ông cũng đã đƣa ra cụ thể ba phƣơng pháp tính tỷ lệ lạm phát bao gồm: phƣơng pháp tính theo chỉ số giá tiêu dùng (CPI), phƣơng pháp tính theo chỉ số giá sản xuất (PPI) và phƣơng pháp tính theo chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội (PGDP). Friedman (1997) cho rằng “lạm phát dù lúc nào và ở đâu cũng là một hiện tƣợng tiền tệ” và đại đa số các nhà kinh tế học trên thế giới đều đồng tình với quan điểm này của ông. Ông cho rằng lạm phát là kết quả của sự gia tăng cung tiền hay là tốc độ tăng của tiền lớn hơn tốc độ tăng trƣởng của nền kinh tế. Nhƣ vậy, theo ông lạm phát ở mọi nơi luôn luôn là một hiện tƣợng tiền tệ, nó phát sinh từ sự gia tăng số lƣợng tiền nhanh hơn so với sự gia tăng khối lƣợng hàng hóa phát sinh trong nền kinh tế.
Nhƣ vậy có nhiều khái niệm cũng nhƣ có nhiều cách giải thích khác nhau về lạm phát, tuy nhiên có một khái niệm chung đƣợc các nhà kinh tế chấp nhận rằng lạm phát là hiện tƣợng biểu thị sự gia tăng về mức giá chung duy trì một cách vững chắc và kéo dài trong một khoảng thời gian nhất định, mức giá chung này là mức giá trung bình của các loại hàng hóa và sự gia tăng của mức giá chung này diễn ra liên tục mà không có sự gia tăng đi kèm trong sản xuất hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế. 7 Tóm lại, lạm phát là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hƣởng đến mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội và việc quản lý giá cả, kiểm soát lạm phát là một nhiệm vụ quan trọng ở mọi quốc gia. Bên cạnh đó, trái ngƣợc với lạm phát, hiện tƣợng giảm phát xảy ra khi mức giá trung bình của nền kinh tế giảm xuống. Giảm phát xảy ra khi vì lý do nào đó mà lƣợng tiền tệ trong lƣu thông bị sụt giảm khiến giá cả chung giảm.
Giảm phát thƣờng xuất hiện khi kinh tế suy thoái hoặc đình đốn, lúc này giá giảm nhƣng lƣợng hàng hóa không tăng lên, giảm phát khiến nền kinh tế càng thêm ngƣng trệ, ngƣời tiêu dùng hoãn chi tiêu để tiết kiệm với kỳ vọng giá sẽ giảm sâu hơn, đầu tƣ sản xuất thu hẹp, thất nghiệp tăng lên. Nhƣ vậy, mọi hành vi tài chính trong các hoạt động kinh tế xã hội đều rất nhạy cảm với những biến động bất ổn của giá cả hàng hóa. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả chỉ tập trung đến lạm phát. Cách tính tỷ lệ lạm phát Lê Thị Tuyết Hoa và cộng sự (2017) cho rằng “mức độ lạm phát đƣợc sử dụng phƣơng pháp chỉ số nhằm thể hiện đƣợc sự biến động của mức giá hàng hóa chung trong nền kinh tế”.
Một số phƣơng pháp chỉ số bao gồm: Chỉ số giá cả hàng hóa tiêu dùng (CPI), chỉ số giá sản xuất (PPI) và chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội (PGDP). Chỉ số giá cả hàng hóa tiêu dùng (CPI): Chỉ số giá cả hàng hóa tiêu dùng (Consumer Price Index – CPI) là chỉ số tính theo phần trăm, phản ánh mức giá cả bình quân của hàng hóa tiêu dùng trong một thời kỳ nhất định và đƣợc tính theo một rổ hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ tiêu biểu trong cơ cấu tiêu dùng của công chúng trong một giai đoạn nhất định, nó thể hiện mức giá bình quân của rổ hàng hóa mà công chúng mua ở kỳ này so với kỳ gốc. Chỉ số giá cả hàng hóa tiêu dùng thƣờng đƣợc sử dụng phổ biến và đƣợc tính bởi công thức sau: t 0 ∑k P Q CPI = i=1 i 100 (2.1) i ∑k P0Q0 i=1 i i Trong đó: P : đơn giá của sản phẩm loại i trong năm t i 8 P : đơn giá của sản phẩm loại i trong năm gốc i i : khối lƣợng của sản phẩm loại i trong năm gốc Từ công thức tính chỉ số giá cả hàng hóa tiêu dùng CPI, tỷ lệ lạm phát đƣợc tính theo công thức sau: IN = 100 CPIt– CPIt−1 Ft CPIt−1 (2.2) Trong đó: INFt: tỷ lệ lạm phát năm t CPIt: chỉ số CPI năm t CPIt-1: chỉ số CPI năm t-1 Ƣu điểm lớn nhất của phép đo lạm phát theo chỉ số CPI đó là thông qua tỷ lệ lạm phát, có thể đánh giá đƣợc mức độ ảnh hƣởng đến thu nhập và đời sống của ngƣời tiêu dùng. Tuy nhiên, do chỉ số CPI đƣợc xác định dựa trên một rổ hàng hóa và dựa trên sản lƣợng hàng hóa năm gốc nên không phản ánh đƣợc biến động giá cả hàng hóa một cách toàn diện và cũng không phản ánh đƣợc sự xuất hiện của những hàng hóa mới và sự thay đổi của chất lƣợng hàng hóa trong năm nghiên cứu.
Chỉ số giá cả hàng hóa tiêu dùng đƣợc sử dụng phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam thì việc tính toán chỉ số CPI đƣợc đảm nhiệm bởi Tổng cục Thống kê. Chỉ số giá sản xuất (PPI): Chỉ số giá sản xuất (Producer Price Index – PPI) là chỉ số đo lƣờng mức giá trung bình của giỏ hàng hóa trong sản xuất, phản ánh chi phí sản xuất bình quân của xã hội. Cách tính tỷ lệ lạm phát theo chỉ số PPI giống nhƣ chỉ số CPI, tuy nhiên PPI đƣợc tính trên một rổ hàng hóa với số lƣợng nhiều hơn CPI và đƣợc tính theo giá bán trong lần bán đầu tiên (giá bán buôn). Vì cách tính này chỉ mới tính toán đến sự biến động của giá cả ở khâu sản xuất mà chƣa phản ánh đƣợc đầy đủ biến động giá cả hàng hóa ở khâu tiêu dùng nên tính toàn diện còn hạn chế.
Hơn nữa, việc thu thập số liệu và xác định tỷ trọng theo phƣơng pháp chỉ số PPI này rất phức tạp. Vì vậy, việc tính toán tỷ lệ lạm phát theo phƣơng pháp này ít đƣợc các quốc gia trên thế giới sử dụng. 9 Chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội (PGDP): Ngoài cách tính tỷ lệ lạm phát theo chỉ số giá cả hàng hóa tiêu dùng hoặc chỉ số giá sản xuất thì chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội (P GDP) cũng đƣợc sử dụng để tính tỷ lệ lạm phát. Chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội là chỉ số tính theo phần trăm, phản ánh sự thay đổi mức giá trung bình của tất cả các loại hàng hóa, dịch vụ đƣợc sản xuất trong nƣớc, nó thể hiện mức giá trung bình của tất cả các loại hàng hóa, dịch vụ sản xuất ở kỳ này so với kỳ gốc.
Chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội đƣợc xác định bằng tỷ lệ của GDP danh nghĩa (đo lƣờng sản lƣợng năm nghiên cứu theo giá năm nghiên cứu) và GDP thực tế (đo lƣờng sản lƣợng năm nghiên cứu theo giá năm gốc). GDP danh nghĩa lấy giá năm nghiên cứu để đo lƣờng sản lƣợng và GDP thực tế lấy giá năm gốc để đo lƣờng sản lƣợng của tất cả các loại hàng hóa, dịch vụ đƣợc sản xuất trong nƣớc. Chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội hay là chỉ số điều chỉnh tổng sản phẩm quốc nội đƣợc tính bởi công thức sau: PGDP = nghĩa GDP danh ∑n t PQ t 100 i 100 = i=1 i (2.3) GDP thực te ∑n 0 t i=1 iP Qi Trong đó: Pt: đơn giá của sản phẩm loại i trong năm t i Qt: khối lƣợng của sản phẩm loại i trong t i P : đơn giá của sản phẩm loại i trong năm gốc i Từ công thức tính chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội PGDP, tỷ lệ lạm phát đƣợc tính theo công thức sau: IN = PGDP(t)– PGDP(t−1) 100 Ft PGDP(t−1) (2.4) Trong đó: INFt: tỷ lệ lạm phát năm t PGDP(t): chỉ số giảm phát GDP năm t PGDP(t-1): chỉ số giảm phát GDP năm t-1 1 Ƣu điểm của phƣơng pháp tính chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội là phản ánh đƣợc toàn bộ những thay đổi về giá cả của tất cả các mặt hàng sản xuất trong nƣớc và phản ánh đƣợc biến động của sản phẩm, đặc biệt là sự xuất hiện của các hàng hóa mới. Tuy nhiên, phƣơng pháp này cũng có hạn chế đó là không phản ánh đƣợc sự thay đổi chất lƣợng sản phẩm, mức giá cả của hàng nhập khẩu và sự thay đổi cơ cấu sản phẩm qua các thời kỳ.