Chương 1 đã trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đồng thời xác định đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu ảnh hưởng của lãi suất và tỷ giá hối đoái đến thu nhập trên mỗi cổ phần của các ngân hàng niêm yết tại Việt Nam trong vòng 6 năm. Thông qua phương pháp nghiên cứu và mô hình thống kê OLS, FEM, REM sẽ chi ra được mức độ tác động giữa lãi suất và tỷ giá đối với thu nhập cổ phiếu. Ngoài ra, ở chương này tác giả cũng nêu lên tính thiết thực của đề tài và đóng góp của đề tài vào thực tế, có nghĩa là giúp các nhà đầu tư xác định chính xác danh mục đầu tư phù hợp và tạo ra thu nhập cho bản thân. 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NHỮNG NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2.
Khái niệm lãi suất Trong hàng ngàn năm phát triển của thế giới, lãi suất đã tồn tại từ những giai đoạn đầu tiên của sự tăng trưởng kinh tế. Lãi suất bắt nguồn từ các khoản vay và các khoản đầu tư. Trong giai đoạn lịch sử, các khoản vay đơn giản chỉ là cho mượn một con gia súc, một căn phòng, một số vật dụng hàng ngày, những khoản vay này có thể được hoàn trả lại đúng giá trị ban đầu hoặc là sẽ được hoàn lại với hiện vật, việc làm được xem là lãi suất. Trong trường hợp, người nông dân cho hàng xóm mượn một con trâu để cày ruộng, người hàng xóm sau đó có thể trả lại con trâu kèm theo một bao hạt giống, được xem như là một phần lãi cho người chủ.
Theo thời gian khuynh hướng chi tiêu và tiêu dùng của người dân dần thay đổi và họ đã lấy tiền tệ để định giá các khoản trả nợ, điều này góp phần thúc đẩy hình thức cho vay có lãi bằng hiện kim ngày càng phổ biến. Nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ qua từng năm, lãi suất tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau và các nhà nghiên cứu tài chính đã cho ra vô số định nghĩa về lãi suất. Theo định nghĩa về lãi suất của Samuelson (2011): “Lãi suất là giá cả của người đi vay phải trả cho người cho vay để sử dụng một khoản tiền trong một khoảng thời gian xác định”. Khái niệm này được hiểu rằng lãi suất là giá cả của tín dụng, thể hiện mối quan hệ giữa người vay và người cho vay.
Cụ thể, khi người cho vay tiền hoặc một dịch vụ cụ thể, khi đến hạn người cho vay sẽ nhận được mức tiền lãi tính trên tỷ lệ phần trăm của số tiền gốc, thường lãi suất này được tính theo năm. Vai trò của lãi suất đối với nền kinh tế Thu hút vốn FDI: Đứng trước nền kinh tế toàn cầu hóa, việc hợp tác và góp vốn kinh doanh với các doanh nghiệp nước ngoài là điều cần thiết cho sự phát triển bền vững và hội nhập kinh tế của nước ta. Khi đưa ra quyết định đầu tư vào một nước khác, nhà đầu tư sẽ cân nhắc mức lãi suất của các quốc gia, đây chính là lợi nhuận nhà đầu tư đạt được dưới hình thức hợp tác. Sau khi tìm hiểu lãi suất của đối phương, nhà đầu tư thường có xu hướng sẽ chọn bên hợp tác đưa ra lãi suất cao hơn, điều này cũng tạo cũng lực cho 6 các nhà đầu tư góp vốn vì lợi nhuận kiếm được, đồng thời giúp các nước đang phát triển có thêm nguồn vốn dồi dào, nâng cao khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp.
Do vậy, phần lớn các quốc gia cũng như Việt Nam đang cố gắng thu hút FDI để đạt được những lợi ích lớn hơn, chính vì vậy mà FDI trở thành một trong những yếu tố dẫn đến sự tăng trưởng kinh tế. Lãi suất đối với lạm phát: Trong giai đoạn nền kinh tế xảy ra tình trạng lạm phát, có nghĩa là lượng cung tiền trên thị trường đang dư thừa, chính phủ có thể kiểm soát lạm phát bằng cách điều chính lãi suất. Việc tăng lãi suất khoản làm cho người đi vay phải hoàn trả khoản vay với tiền lãi lớn hơn và tăng lãi suất khoản đầu tư sẽ kích thích mong muốn tạo ra lợi nhuận cao của người dân, nhờ vậy NHTM thu về lượng tiền khổng lồ đang lưu hành trên thị trường khiến cho lượng tiền lưu thông giảm và lạm phát được kiềm chế. Lãi suất là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ: Nhà nước thông qua lãi suất để thực hiện điều chỉnh lượng cung ứng tiền, từ đó tác động đến sự tăng giảm sản lượng để thực hiện điều tiết nền kinh tế như ổn định lạm phát, công ăn việc làm và phát triển sản xuất.
Điều này góp một thực hiện mục tiêu đưa đất nước trở thành quốc gia có nền kinh tế phát triển. Chính phủ có vai trò quản lý chặt chẽ sự biến động của lãi suất và quy định phần trăm lãi suất phù hợp với các NHTM để tránh trường hợp các tổ chức tín dụng tăng lãi suất phi lý làm tâm lý của người đi vay bị ảnh hưởng, cũng như việc các tổ chức tự động giảm lãi suất đối với người gửi tiền làm suy giảm ý thức tiết kiệm của người dân. Nếu hiệu quả của việc khuyến khích đầu tư và tiết kiệm giảm sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận ngân hàng và tiến độ các danh mục đầu tư. Đối với ngân hàng: Một trong những hoạt động kinh doanh chính của ngân hàng chính là cho vay.
Lợi nhuận của các NHTM một phần phụ thuộc vào lãi suất từ việc cho vay và các danh mục đầu tư. Việc thiết lập mức lãi suất hấp dẫn sẽ thu hút cá nhân có nhu cầu gửi tiền, khoản tiền đó sẽ được đem đi đầu tư vào các tổ chức, danh mục đầu tư với mức lãi suất cao, kết quả là nhận được khoản thu nhập tăng cao rõ rệt nhờ vào các khoản đầu tư. Như vậy NHTM vừa kiếm được lợi nhuận mà người gửi tiền cũng nhận được 7 phần lãi suất của số tiền gốc, điều này vừa huy động tiết kiệm cũng như khuyến khích đầu tư vừa góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước. Tỷ giá hối đoái 2.
Khái niệm về tỷ giá hối đoái Trước khi tiền tệ xuất hiện, tỷ giá hối đoái đã tồn tại dưới hình thức trao đổi hiện vật. Hàng hóa xuất hiện trong những khu chợ lớn của ngày xưa có thể được mua bằng vàng, bạc hoặc người mua có thể thỏa thuận trao đổi hiện vật ngang với giá món đồ muốn mua với người bán. Các nhà nghiên cứu đã tìm được các di tích còn sót lại của việc trao đổi tiền xu theo tỷ giá dựa vào hàm lượng kim loại khác nhau Ai Cập. Trong thời kỳ nền kinh tế các nước vẫn chưa có sự giao thoa, hàng hóa được các thương gia từ khắp nơi trên đát nước nhập về và buôn bán ngay trên địa phương của mình hoặc các khu chợ sầm uất.
Nhưng từ thời điểm các quốc gia bắt đầu thiết lập mối quan hệ hợp tác trên lĩnh vực kinh tế, thương gia từ ngoại quốc ngày một xuất hiện đông đúc trên mọi nẻo đường. Những lô hàng lạ mắt đến từ nước ngoài khiến cho người dân tò mò và muốn sở hữu chúng. Vấn đề đã xuất hiện đó là giữa những quốc gia khác nhau sử dụng đơn vị tiền tệ khác nhau, vì vậy thông qua cơ chế quản lý của các nước, thị trường tài chính chung đã thiết lập chế độ tỷ giá hối đoái áp dụng cho sự lưu chuyển tiền tệ từ đơn vị này sang đơn vị khác. Ngày nay, nói một cách dễ hiểu hơn, tỷ giá hối đoái là giá trị ngoại tệ được mua và bán trên thị trường quốc tế bằng tiền tệ quốc gia của một nước theo một tỷ giá nhất định.
Tỷ giá hối đoái còn được định nghĩa ở khía cạnh khác, đó là quan hệ so sánh giữa hai tiền tệ của hai nước với nhau. Một đồng tiền hay một lượng đồng tiền nào đó đổi được bao nhiêu đồng tiền khác được gọi là tỷ lệ giá cả trao đổi giữa các đồng tiền với nhau hay gọi tắt là tỷ giá hối đoái hay ngắn gọn là tỷ giá. Như vậy, bản chất của tỷ giá hối đoái là một loại giá cả nhưng là giá cả của hàng hóa đặc biệt đó là tiền tệ. Tác động của tỷ giá hối đoái đến nền kinh tế Đối với xuất nhập khẩu: Xét theo nhiều trường hợp khác nhau, tỷ giá sẽ có những tác động tiêu cực hoặc tích cực lên hoạt động XNK tùy thuộc vào khả năng xử lý tình huống của các tổ chức kinh doanh.
Theo nghiên cứu của Clark (1973), một doanh nghiệp 8 sở hữu sản phẩm độc quyền nếu xuất khẩu ra nước ngoài sẽ chiếm ưu thế tuyệt đối, nhưng mặt khác vấn đề bảo hiểm rủi ro còn rất hạn chế. Trong trường hợp chi phí thay đổi, bên cung ứng không thể thay đổi sản lượng của mình trong hợp đồng. Đối với một công ty không có ý định chịu rủi ro sẽ chấp nhận sự biến động của tỷ giá bằng cách giảm khối lượng sản xuất. Một điều rõ ràng đó là sự biến động không lường trước được của tỷ giá gây ảnh hưởng đến doanh thu cũng như lợi nhuận nhận được bằng nội tệ.
Tuy nhiên với các công ty có khả năng thanh toán linh hoạt với các đơn vị tiền tệ khác nhau sẽ giảm thiểu được phần nào tổn thất do biến động tỷ giá gây ra và tự tạo cơ hội phát triển cho mình. Điều tiết thu nhập trong hoạt động kinh tế đối ngoại: Phân phối lại thu nhập giữa các ngành hàng có liên quan đến kinh tế đối ngoại và giữa các nước có liên quan về kinh tế với nhau. Khi tỷ giá cao, tức là giảm sức mua của đồng tiền trong nước so với đồng tiền nước ngoài. Điều này có tác dụng giúp cho nhà xuất khẩu có thêm lợi thế để cạnh tranh tăng thêm thu nhập cho nhà xuất khẩu.
Cạnh tranh thương mại: Hoạt động trao đổi, mua bán với nước ngoài làm cho thị trường tiêu thụ hàng hóa mở rộng, các doanh nghiệp có thêm nhiều sự lựa chọn nguyên liệu đầu vào. Trong thời đại nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, nguồn cung ứng dồi dào không chỉ trong nước mà còn từ nước ngoài với các mức giá cả phong phú, vì vậy các bên cung cấp sản phẩm cần có những yếu tố quyết định đánh vào mong muốn của bên mua như là giá thành sản xuất, giá trị thương hiệu, chất lượng sản phẩm. Để đạt được những mục tiêu đó, các nhà lãnh đạo phải vạch ra chiến lược dài hạn cho việc xây dựng thương hiệu, xác định lợi thế so sáng và tăng cường tiếp cận thị trường.