chương 1 Trong chương này, đã được trình bày những vấn đề cơ bản và tổng quan nhất của nghiên cứu bao gồm: (i) lý do chọn đề tài nghiên cứu về ước lượng độ biến động của tỷ giá giữa USD và VND tại Việt Nam bằng mô hình ARCH trong khoảng thời gian nghiên cứu kể từ ngày 04/01/2016 đến ngày 06/04/2022, (ii) mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, (iii) đối tượng và phạm vi nghiên cứu, (iv) cách thức thu thập dữ liệu nghiên cứu và trình bày phương pháp nghiên cứu, (v) tóm tắt sơ lược về bố cục nghiên cứu của đề tài khóa luận và tóm tắt nội dung trong từng chương, (vi) trình bày những đóng góp mới của khóa luận cả về mặt lý luận và về mặt thực tiễn. SỰ BIẾN ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 2. Khái niệm tỷ giá hối đoái Theo Mishkin (2018), “giá của một đồng tiền được biểu thị bằng một đồng tiền khác gọi là tỷ giá”. Như vậy, trong khái niệm này tỷ giá có thể được hiểu là giá trị của một đồng tiền nào đó được thể hiện thông qua giá trị của đồng tiền khác.
Stonehill và Michael H. Moffett (2019) thì lại có định nghĩa về tỷ giá hối đoái là “giá cả của một đơn vị tiền tệ được thể hiện bằng một số đơn vị tiền tệ khác”. Stonehill và Michael H. Moffett nhận định tiền tệ là một loại hàng hóa và nó có giá, với giá của một đơn vị tiền tệ này được thể hiện bằng một số đơn vị tiền tệ khác gọi là tỷ giá hối đoái.
Theo Đỗ Đức Bình và các cộng sự (2012), “tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ của một nước tính bằng tiền tệ của một nước khác, hay là quan hệ so sánh về mặt giá cả giữa hai đồng tiền của các nước khác nhau”. Khi đó, giá cả của hai đồng tiền là khác nhau giữa các nước khác nhau, và giá cả của đơn vị tiền tệ nước này sẽ được tính bằng tiền tệ của nước khác. Theo Trần Văn Hòe (2009) thì “Tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh về mặt giá trị giữa hai đồng tiền của hai quốc gia”. Có thể hiểu, tỷ giá là sự so sánh về mặt giá trị của hai đồng tiền tại hai quốc gia.
Theo Khoản 9, Điều 4, văn bản hợp nhất số 07/VBHN-VPQH ngày 11/07/2013 của Văn phòng Quốc hội về quản lý ngoại hối có định nghĩa: “Tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam là giá của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ của Việt Nam.” Trong định nghĩa này, giá của một đơn vị tiền tệ nước ngoài sẽ được tính bằng đơn vị tiền tệ của Việt Nam, cụ thể là Việt Nam đồng. Như vậy, dù có nhiều phát biểu về tỷ giá hối đoái, nhưng về bản chất có thể hiểu, tỷ giá hối đoái là giá của đồng tiền nước này được biểu thị qua một số lượng tiền tệ của nước khác. Hay tỷ giá hối đoái là tỷ lệ trao đổi của hai đồng tiền của hai quốc gia, chính vì thể, tỷ giá biểu thị tương quan giá trị giữa hai đồng tiền cấu thành từ tỷ giá. Theo đó, tỷ giá hối đoái luôn có 2 đồng tiền bao gồm đồng tiền yết giá và đồng tiền định giá.
Ví dụ: 1 USD = 23,080 VND, qua ví dụ có thể hiểu, tỷ giá là giá của 1 đồng tiền của nước Mỹ (hay giá của 1 USD) được biểu thị bằng một số lượng bằng 23,080 lần đồng tiền của nước Việt Nam (hay 23,080 VND). Đồng thời, USD đóng vai trò là đồng tiền yết giá, được biểu thị bằng 1 đơn vị; và VND là đồng tiền 7 định giá dùng để đo lường giá trị của USD, và đồng tiền định giá có số đơn vị thay đổi, phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường. Trên thị trường ngoại hối, ngoại tệ là hàng hóa. Vì là một loại hàng hóa được trao đổi trên thị trường, nên các nhà kinh doanh ngoại tệ khi mua bán tiền tệ với nhau sẽ yết tỷ giá hai chiều là tỷ giá mua và tỷ giá bán.
Theo đó, tỷ giá mua là tỷ giá mà tại đó ngân hàng sẵn sàng mua một đồng ngoại tệ. Tỷ giá bán là tỷ giá mà tại đó ngân hàng sẵn sàng bán một đồng ngoại tệ. Chẳng hạn, tỷ giá hối đoái được ngân hàng niêm yết như sau: USD/VND = 23,030 – 23,310 thì khi đó, tỷ giá đứng trước là tỷ giá mua và ngân hàng sẵn sàng mua 1 đồng USD với giá 23,030 VND; và tỷ giá đứng sau là tỷ giá bán và ngân hàng sẵn sàng bán 1 đồng USD với giá 23,310 USD. Vai trò của tỷ giá hối đoái - Đối với nền kinh tế Tỷ giá hối đoái là một chỉ số kinh tế vĩ mô rất quan trọng, tác động đến nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế: Thứ nhất, tỷ giá hối đoái là công cụ so sánh sức mua của các đồng tiền.
Tỷ giá hối đoái phản ánh tương quan giá trị giữa các đồng tiền. Do vậy, thông qua tỷ giá có thể so sánh giá cả trên thị trường trong nước với thị trường thế giới; so sánh được năng suất lao động, giá thành sản phầm trong nước với các nước khác trên thế giới. Thứ hai, tỷ giá hối đoái là công cụ kích thích và điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu. Tỷ giá phản ánh điều kiện sản xuất, năng suất lao động; phản ánh mức giá cả trung bình trong nước và trên thế giới.
Do đó, thông qua tỷ giá có thể xác định mức độ hiệu quả kinh tế trong các hoạt động kinh tế đối ngoại. Thông qua cơ chế điều hành chính sách tỷ giá, nhà nước có thể kích thích tác động điều chỉnh cơ cấu xuất nhập khẩu trong từng thời kỳ; khuyến khích hoặc hạn chế xuất nhập khẩu đối với từng loại hàng hóa, nhằm thực hiện định hướng phát triển cho mỗi thời kỳ. Thứ ba, tỷ giá hối đoái là công cụ điều tiết thu nhập trong hoạt động kinh tế đối ngoại. Giả sử nhà nước thực hiện phá giá đồng nội tệ hay giảm giá đồng tiền trong nước so với đồng tiền nước ngoài, khi đó thu nhập của các nhà nhập khẩu sẽ bị giảm một phần và điều này sẽ hỗ trợ nhà xuất khẩu có thêm lợi thế cạnh tranh xuất khẩu.
Ngược lại, khi nâng giá đồng tiền trong nước so với đồng tiền nước ngoài, khi đó thu nhập của các nhà xuất khẩu sẽ bị giảm bớt, đồng thời thu nhập của 8 các nhà nhập khẩu lại tăng thêm. (Lê Thị Tuyết Hoa và Nguyễn Thị Nhung, 2011) 9 - Đối với ngân hàng thương mại NHTM cũng là một loại hình doanh nghiệp, tuy nhiên lại khác với các doanh nghiệp khác vì hàng hóa kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ. Ngân hàng thực hiện kinh doanh nhiều loại tiền tệ và cơ sở để NHTM xác định giá giao dịch của từng loại tiền tệ với khách hàng là tỷ giá hối đoái. Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng không chỉ mang lại lợi nhuận cho ngân hàng thông qua việc chênh lệch tỷ giá mua vào – bán ra với khách hàng, mà còn giúp ngân hàng kiếm lãi từ nghiệp vụ kinh doanh chênh lệch tỷ giá và đầu cơ kiếm lời trên thị trường liên ngân hàng.
Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh ngoại tệ còn giúp cho ngân hàng phát triển các hoạt động khác như tài trợ thương mại, thanh toán quốc tế. Tuy nhiên, ngoài mang lại lợi nhuận cho ngân hàng thì hoạt động kinh doanh ngoại tệ cũng mang đến rủi ro cho ngân hàng. Cụ thể, nếu trạng thái ngoại hối của ngân hàng không cân bằng, khi đó NHTM phải chịu rủi ro tỷ giá nếu tỷ giá hối đoái thay đổi theo hướng bất lợi với NHTM. - Đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu Tỷ giá hối đoái phản ánh thu nhập thực nhận hay chi phí phải trả của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu sau khi đã quy đổi từ ngoại tệ sang giá trị nội tệ.
Cụ thể, đối với doanh nghiệp xuất khẩu, khi đã nhận được khoản tiền thanh toán từ đối tác ở nước ngoài. Nếu khi đó tỷ giá hối đoái tăng, khoản thu nhập thực nhận khi đã quy đổi sang giá trị nội tệ của doanh nghiệp sẽ tăng. Ngược lại, nếu khi đó tỷ giá hối đoái giảm, khoản thu nhập thực nhận của doanh nghiệp khi đã quy đổi sang giá trị nội tệ sẽ giảm. Còn đối với doanh nghiệp nhập khẩu, khi tiến hành thanh toán tiền hàng bằng ngoại tệ cho đối tác nước ngoài, nếu khi đó tỷ giá hối đoái tăng sẽ làm khoản nội tệ mà doanh nghiệp phải bỏ ra để thanh toán tiền hàng tăng so với dự kiến ban đầu.
Trái lại, khi tỷ giá hối đoái giảm, số nội tệ mà doanh nghiệp phải bỏ ra để thanh toán tiền hàng cho đối tác nước ngoài sẽ giảm so với dự kiến ban đầu. Ngoài ra, tỷ giá hối đoái cũng là một trong số các yếu tố quyết định đến khả năng cạnh tranh của hàng hóa trong nước so với hàng hóa nước ngoài. Khi tỷ giá tăng hay giá trị của đồng nội tệ giảm giá so với đồng ngoại tệ, hàng nhập khẩu sẽ trở nên đắt hơn so với hàng trong nước. Khi đó người tiêu dùng trong nước có xu hướng ưu tiên tiêu dùng hàng hóa trong nước và hạn chế tiêu dùng các mặt hàng nhập khẩu.
Có thể nói, tỷ giá hối đoái đã tác động phần nào đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. 1 - Đối với người dân Tỷ giá hối đoái là một yếu tố tác động trực tiếp đến quyết định tiêu dùng của người dân. Cụ thể, khi tỷ giá tăng sẽ hạn chế người dân tiêu dùng hàng nhập khẩu, và ngược lại, khi tỷ giá giảm lại kích thích người dân tiêu dùng hàng ngoại. Ngoài ra, tỷ giá hối đoái cũng là một yếu tố để người dân xác định chi phí khi đi du lịch, đi du học hay đi khám bệnh ở những nơi sử dụng ngoại tệ để thanh toán.
Bên cạnh đó, tỷ giá hối đoái cũng quyết định khoản thu nhập thực nhận của người dân khi quy đổi các khoản thu nhập bằng ngoại tệ sang giá trị nội tệ. Phương pháp yết tỷ giá - Yết tỷ giá trực tiếp và yết tỷ giá gián tiếp Theo Nguyễn Trần Phúc và các cộng sự (2015), yết tỷ giá trực tiếp là cách biểu diễn số đơn vị nội tệ trên một đơn vị ngoại tệ. Chẳng hạn, tại Việt Nam tỷ giá được yết: 23,080 VND/USD là yết tỷ giá trực tiếp với ý nghĩa là 23,080 VND có thể đổi được 1 USD; và ngược lại, 1 USD có thể đổi được 23,080 VND.