Chương 1 – Giới thiệu đề tài, tác giả sẽ trình bày tổng quát về lý do chọn đề tài, mục tiêu và các vấn đề nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu cũng như ý nghĩa của bài nghiên cứu. Chương 2 – Trình bày khung lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây, chương này sẽ trình bày và tổng hợp các kết quả của các học giả trong và ngoài nước về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái, lãi suất và tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu ngân hàng trên phương diện cơ sở lý thuyết cũng như thực nghiệm. Chương 3 – Đưa ra phương pháp nghiên cứu, lựa chọn mô hình và dữ liệu cụ thể được áp dụng cho bài nghiên cứu này. Chương 4 – Kết quả nghiên cứu, chương này trình bày các kết quả mà nghiên cứu đã tìm được đối với dữ liệu thu thập trong giai đoạn từ 02/2014 đến tháng 12/2017.
Sau đó là phần giải thích kết quả chính của mô hình nghiên cứu. Chương 5 – Kết luận, chương này sẽ tổng kết lại các kết quả nghiên cứu, đề xuất một số kiến nghị, trình bày các điểm còn hạn chế trong bài nghiên cứu, từ đó đề xuất những hướng nghiên cứu trong thời gian sắp tới. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Cơ sở lý thuyết “Một thị trường vốn hiệu quả là thị trường mà giá các chứng khoán điều chỉnh tức thời khi xuất hiện các nguồn thông tin mới hay nói cách khác, giá cả hiện tại của cổ phiếu đã thể hiện phần lớn các thông tin về cổ phiếu đó”- lý thuyết thị trường hiệu quả (Efficient Market Hypothesis – EMH) đã đặt ra cơ sở lý thuyết cực kỳ quan trọng cho các nhà làm chính sách, các nhà đầu tư chứng khoán cũng như chính bản thân các ngân hàng có mặt trên thị trường. Nhìn chung, các cơ quan hoạch định chính sách sẽ được tự do thực thi, ban hành các chính sách, phương hướng, chiến lược mang tầm vĩ mô mà không nhất thiết phải e dè rằng liệu các chính sách mà họ đưa ra sẽ tác động và làm chuyển đổi bản chất của thị trưởng chứng khoán vì những chính sách đó phần nào chỉ tác động tới giá cả của các mã cổ phiếu đang niêm yết mà thôi.
Bên cạnh đó, các học thuyết kinh tế học còn đề xuất ra một giả thuyết đó là giá cả của cổ phiếu, chứng khoán một mặt không những đưa ra các thông tin hiện có mà còn dự báo tương đối chính xác về hiệu quả, tình hình hoạt động trong thời gian sắp tới của doanh nghiệp. Giả định rằng một khi giá cả của cổ phiếu sẽ phản ánh một cách tương đối chính xác các thành tố kinh tế mang tầm vĩ mô thì điều này tương đương với việc nó có thể sẽ được xem như một công cụ dùng để dự báo thể trạng của nền cả kinh tế quốc gia trong tương lai. Chính vì vậy, việc tìm hiểu mối quan hệ cộng sinh, tương tác qua lại giữa những nhân tố vĩ mô và giá cổ phiếu là cực kỳ quan trọng trong việc đề suất và gợi ý trong việc đưa ra các chính sách trong công tác vận hành cả nền kinh tế. Dưới tác động của những nhân tố kinh tế vĩ mô đến thị trường mua bán chứng khoán nói chung, lý thuyết từ EMH đã chỉ ra: việc cạnh tranh đến từ các nhà đầu tư trên thị trường – bao gồm những người mua người bán mong muốn hướng đến việc đạt được lớn nhất lợi nhuận của mình – chắc chắn rằng tất cả những thông tin, dữ liệu hiện tại giả định rằng liên hệ tới việc thay đổi của những nhân tố vĩ mô sẽ được thể hiệnthông qua giá của cổ phiếu chứng khoán, vì vậy nhà đầu tư sẽ ít có cơ hội có được tỷ suất sinh lợi mong muốn bằng cách dự đoán xu hướng những thay đổi trên thị trường cổ phiếu chứng khoán TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 trong tương lai.
Nhưng đi ngược với những kết luận trên, các bằng chứng thực nghiệm từ các nghiên cứu trước đã đưa ra kết luận rằng những thành tố kinh tế vĩ mô có thể được dùng trong việc dự báo được chuỗi tỷ suất sinh lợi tích lũy. Những nghiên cứu này khẳng định các yếu tố vĩ mô rõ ràng có ảnh hưởng đến thu nhập và biến động chỉ số giá chứng khoán. Trong nội hàm phạm vi nghiên cứu này, các yếu tố chính sẽ được đề cập đến bao gồm thị trường, lãi suất và tỷ giá hối đoái, các yếu tố này là những biến số thay đổi thường xuyên và có tác động to lớn lên giá cổ phiếu. Việc đưa vào đề tài các yếu tố bao gồm thị trường chứng khoán, lãi suất và tỷ giá hối đoái làm các thành phần chính để nghiên cứu vì các lý do chính sau đây: Thứ nhất, yếu tố thị trường chứng khoán là một yếu tố quan trọng chính trên thị trường chứng khoán.
Bất kỳ cổ phiếu nào đang niêm yết trên thị trường chứng khoán bao gồm cả cổ phiếu ngành ngân hàng đều chịu tác động rất lớn từ thị trường chứng khoán. Yếu tố thị trường ở đây bao hàm tất cả những yếu tố ngoại vi như tâm lý nhà đầu tư hay những thay đổi về hệ thống kinh tế-chính trị- pháp luật đều sẽ ít nhiều tác động lên giá cổ phiếu. Chính vì vậy, việc sử dụng yếu tố thị trường chứng khoán là vô cùng trọng yếu và không thể bỏ qua trong nghiên cứu này. Thứ hai, vì đối tượng khách thể trong nghiên cứu này là các ngân hàng thương mại đang niêm yết trên thị trường.
Đây là hệ thống các doanh nghiệp hoạt động trên thị trường tài chính, tiền tệ và đây là đối tượng chịu sự điều chỉnh trong vận hành, sản phẩm, dịch vụ theo sự thay đổi của lãi suất. Quan trọng hơn, việc thay đổi lãi suất sẽ tác động trực tiếp lên lợi nhuận của các ngân hàng và theo đó, giá niêm yếu của các ngân hang này sẽ dao động theo sự thay đổi lãi suất. Thứ ba, việc đưa vào tỷ giá hối đoái cũng xuất phát từ đặc thù ngành ngân hàng là hoạt động dựa trên thị trường tài chính tiền tệ, trong đó hoạt động đặc thù là cho vay và huy động tiền tệ. Việc thay đổi tỷ giá tương tự như lãi suất cũng sẽ có tác động lớn lên lợi nhuận của ngân hàng khi tỷ giá thay đổi.
Từ đó, giá cổ phiếu cũng sẽ thay đổi theo. Chính vì những lý do kể trên mà đề tài này tiến hành nghiên cứu 3 yếu tố trên bao gồm yếu tố thị trường chứng khoán, lãi suất và tỷ giá hối đoái.1 Thị trường chứng khoán TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Thị trường chứng khoán trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, được quan niệm là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại giấy tờ có giá, các chứng khoán một cách có tổ chức trong một hệ thống luật chặt chẽ. Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành, và ở những thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp. Như vậy, xét về mặt hình thức, TTCK chỉ là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán, qua đó thay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán.
Về cơ bản, chứng khoán chính là một phần của công ty khi gọi vốn đầu tư. Nhà đầu tư có thể được xem là chủ của doanh nghiệp khi nắm giữ cổ phiếu (cổ phần) của doanh nghiệp đó. Khi một doanh nghiệp phát hành cổ phiếu ra thị trường lần đầu (hay còn gọi là IPO) nhiều tổ chức sẽ tiến hành mua cổ phiếu đó với số lượng lớn ( công ty sẽ thu được nguồn vốn từ hoạt động này). Mặt khác khi công ty đó niêm yết trên sàn chứng khoán, những người sở hữu cổ phần của công ty sẽ được sở hữu một lượng cổ phiếu nhất định tùy theo cổ phần của họ trong công ty.
Những tổ chức đã mua cổ phiếu cùng với những người sở hữu cổ phần đều có thể bán lại cổ phiếu đã mua cho các nhà đầu tư khác. Chính lúc này, những người sở hữu cổ phiếu chứng khoán của các doanh nghiệp đang niêm yết thì được xem là nhà đầu tư, và những nhà đầu tư này có thể tiến hàng các hoạt động như mua bán, trao đổi cổ phiếu công ty, doanh nghiệp đó trên thị trường, tuy nhiên vấn đề cốt lỗi chính là những hoạt độn trao đổi mua bán này sẽ không có tác động trong việc tăng lên của vốn doanh nghiệp mà đơn giản chỉ là việc thay đổi chủ sở hữu từ nhà đầu tư này sang nhà đầu tư khác. Những giao dịch trao đổi mua bán trên sẽ được tiến hành thông qua sự trung gian của các công ty môi giới (những công ty môi giới chứng khoán sẽ phải có trách nhiệm trong việc thực hiện và khớp lệnh), Trung tâm lưu ký Chứng khoán của nhà nước sẽ có chức năng lưu ký những cổ phiếu đã được mua. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
1 Thị trường tài chính Việt Nam Thị trường tín dụng Thị Thị trường tiền tệ trường tài chính Thị trường Thị chứng khoán trường các loại giấy tờ có giá Nguồn: Nguyễn Văn Ngọc (2012) Tại Việt Nam, Thị trường cổ phiếu đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ. Tính đến ngày 24/11/2017, chỉ số VN-Index đạt 935,57 điểm, tăng 40,7% so với số điểm vào cuối năm 2016 – đây là mức điểm VN- Index cao nhất trong gần 10 năm trở lại đây. Mức vốn hóa thị trường cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đạt 3.272 nghìn tỷ đồng, tương đương 72,7% GDP. Tổng giá trị giao dịch cổ phiếu, chứng chỉ quỹ bình quân phiên đạt hơn 4.
Quy mô thị trường chứng khoán (TTCK) ngày càng được mở rộng. Tính đến hết tháng 11/2017 đã có 2.016 doanh nghiệp niêm yết và đăng ký giao dịch trên 2 Sở giao dịch, trong đó, đã thu hút được nhiều doanh nghiệp quy mô lớn lên niêm yết trên TTCK trong năm 2017 như: Ngân hàng Thương mại Việt Nam Thịnh vượng, CTCP Hàng không Vietjet. Bên cạnh thị trường cổ phiếu, một mảng khác của thị trường chứng khoán là thị trường trái phiếu có những bước phát triển nhanh, mạnh. Nếu năm 2006, dư nợ thị trường trái phiếu mới đạt mức 14% GDP thì đến thời điểm hiện tại đã đạt gần 40%, trong đó chủ yếu là thị trường trái phiếu chính phủ (gần 30% GDP) và thị trường trái phiếu doanh nghiệp (xấp xỉ 6% GDP).
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.