phần mở đầu tổng quan đề tài nghiên cứu. Nội dung chương này sẽ nêu rõ lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng – phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và đóng góp của đề tài. - Chương 2: Phần tổng quan lý thuyết sẽ trình bày nền tảng cơ sở lý thuyết về: kiệt quệ tài chính, quản lý thu nhập và những nghiên cứu trên thế giới về mối quan hệ giữa quệ tài chính và quản lý thu nhập với phương pháp luận và kết quả thực nghiệm khác nhau. - Tiếp theo, nội dung chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu.
Trong chương này sẽ mô tả biến sử dụng trong mô hình đồng thời giải thích về mẫu nghiên cứu và nguồn dữ liệu; sau đó là giới thiệu phương pháp hồi quy và các kiểm định cần thực hiện. - Thống kê mô tả các biến, kết quả nghiên cứu thực nghiệm và kiểm định mô hình được trình bày ở Chương 4. Ngoài ra, trong nội dung chương này còn thảo luận kết quả nghiên cứu và so sánh với một số nghiên cứu trước đó. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Chương 5 là phần kết luận của bài nghiên cứu, sẽ trình bày những kết luận chính, đóng góp của bài nghiên cứu đồng thời đề xuất khuyến nghị và giải pháp rút ra từ đề tài.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Dưới sự bất ổn của thị trường tài chính, các nhà quản trị tài chính hay các giám đốc tài chính luôn phải đối diện với các tình huống rất áp lực của doanh nghiệp như: IPO, thay đổi xếp hạng tín nhiệm của doanh nghiệp, các thương vụ thâu tóm và sáp nhập.Chính những tình huống khó khăn này là động cơ thúc đẩy các nhà quản lý sử dụng các phương thức thao túng báo cáo tài chính nhằm mục đích phóng đại mức lợi nhuận của doanh nghiệp đảm bảo sự ổn định trong thu nhập trong các cuộc khủng hoảng cũng như mục đích mang lại lợi ích cho chính bản thân các nhà quản lý. Hay cụ thể hơn, thước đo hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chính là lợi nhuận. Về cơ bản, lợi nhuận của doanh nghiệp được hình thành từ hai thành phần chính là doanh thu và chi phí, do đó, hành vi thao túng lợi nhuận sẽ được thực hiện thông qua các thủ thuật làm tăng/giảm hai thành phần này.
Một số nghiên cứu gần đây (Choi, Kim và Lee, 2011; Trombetta và Imperatore, 2014) cũng đã phân tích ảnh hưởng suy thoái kinh tế đối với chất lượng báo cáo tài chính trong tình hình gia tăng số lượng các công ty lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính, đặc biệt là các công ty nhỏ. Kết quả nghiên cứu cho thấy hành vi thao túng, điều chỉnh lợi nhuận tăng lên khi cuộc khủng hoảng kinh tế trở nên tồi tệ hơn. Khung lý thuyết nghiên cứu Mục tiêu chính của bài nghiên cứu là kiểm định mối quan hệ giữa kiệt quệ tài chính và quản lý thu nhập do đó trong nội dung khung lý thuyết nghiên cứu sẽ làm rõ các lý thuyết liên quan. Thứ nhất, luận văn trình bày lý thuyết kiệt quệ tài chính và những hậu quả của kiệt quệ tài chính có thể để lại đối với doanh nghiệp và các chủ thể khác trong nền kinh tế.
Kiệt quệ tài chính là một khái niệm có ý nghĩa rộng, thể hiện LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 tình trạng khó khăn về tài chính, không phải tất cả các công ty lâm vào tình trạng kiệt quệ đều dẫn đến kết quả phá sản do các doanh nghiệp vẫn có thể trì hoãn, giảm thiểu khả năng phá sản bằng những nổ lực và các giải pháp hợp lý để vượt qua khủng hoảng, phục hồi hoạt động kinh doanh. Do đó, kiệt quệ tài chính là một “bối cảnh lý tưởng” tác động đến hành vi của nhà quản lý và nổi bật là hành vi điều chỉnh thu nhập trong báo cáo tài chính nhằm nổ lực giúp công ty vượt qua khủng hoảng. Thứ hai, luận văn trình bày các công cụ điều chỉnh thu nhập phổ biến hiện được nghiên cứu ở nhiều quốc gia trên thế giới đó là: Quản lý thu nhập dựa trên hoạt động kinh doanh thực tế (Real activity earnings manipulation - REM) và quản lý thu nhập dựa trên cơ sở dồn tích (Accrual earnings manipulation - AEM). Bài nghiên cứu tập trung phân tích đặc điểm và chi phí cơ hội giữa hai công cụ quản lý thu nhập này trong bối cảnh doanh nghiệp lâm vào tình trạng kiệt quệ tài chính.
Các lý thuyết liên quan này có liên hệ mật thiết với chủ đề nghiên cứu của đề tài. Lý thuyết kiệt quệ tài chính Thuật ngữ “kiệt quệ tài chính” là một khái niệm có ý nghĩa rộng. Nhiều nhà nghiên cứu kinh tế định nghĩa: kiệt quệ tài chính là tình trạng khó khăn về tài chính của doanh nghiệp giai đoạn từ trước thời điểm tuyên bố phá sản đến lúc phá sản (Atlman và Hotchkiss, 2006; Li Jiming và Du Weiwei, 2011; Tinoco và Nick Wilson, 2013). Altman và Hotchkiss (2006) đưa ra một số thuật ngữ mô tả tình trạng “kiệt quệ tài chính” thường được sử dụng trong nghiên cứu kinh tế bao gồm: thua lỗ (failure) , mất khả năng chi trả (insolvency), vỡ nợ (default) và phá sản (bankruptcy).
Về khía cạnh kinh tế, thua lỗ (failure) được định nghĩa khi tỷ suất sinh lợi thực tế trên khoản vốn đầu tư sau khi đã xem xét yếu tố rủi ro, liên tục thấp hơn đáng kể so với tỷ suất sinh lợi của các khoản đầu tư tương đương trên thị trường. Một số định nghĩa khác cũng được đưa ra về tình trạng thua lỗ, đó là khi doanh thu không đủ bù đắp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 cho chi phí và tỷ suất sinh lợi bình quân trên khoản đầu tư liên tục thấp hơn mức chi phí vốn của một doanh nghiệp. Các công ty thua lỗ vẫn có thể tiếp tục hoạt động khi các nhà đầu tư chấp nhận mức tỷ suất sinh lợi thấp. Hơn nữa, một số doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ trong một vài năm nhưng vẫn có khả năng thanh toán các nghĩa vụ nợ ngắn hạn.
Do đó, các tình huống thua lỗ như trên chưa thể khẳng định sự chấm dứt hoạt động của một doanh nghiệp. Mất khả năng chi trả (insolvency) - là một thuật ngữ tiếp theo để mô tả kết quả hoạt động kinh doanh yếu kém của một doanh nghiệp. Các nhà nghiên cứu phân loại mất khả năng chi trả thành hai dạng đó là: “Mất khả năng chi trả kỹ thuật” và “mất khả năng chi trả giá trị”. Trong đó, mất khả năng chi trả kỹ thuật tồn tại khi công ty không thể thanh toán các nghĩa vụ nợ ngắn hạn đến hạn, biểu hiện ở mất khả năng thanh khoản.
Walter (1957) thảo luận về mất khả năng chi trả kỹ thuật và đề xuất lý thuyết dòng tiền ròng tương đối với các nghĩa vụ nợ ngắn hạn là tiêu chuẩn để mô tả việc mất khả năng chi trả kỹ thuật. Công ty trong tình trạng “mất khả năng chi trả giá trị” khi giá trị hợp lý của tổng tài sản nhỏ hơn tổng nợ phải trả của công ty. Do đó, giá trị kinh tế ròng của công ty mang giá trị âm. Mất khả năng chi trả kỹ thuật rất dễ phát hiện, trong khi đó mất khả năng chi trả giá trị thì khó phát hiện hơn và cần phải phân tích định giá một cách toàn diện.
Một thuật ngữ khác có liên quan đến kiệt quệ tài chính là “vỡ nợ". Thuật ngữ này thể hiện mối quan hệ giữa doanh nghiệp đi vay và chủ nợ. Vỡ nợ (default) được phân loại thành: vỡ nợ kỹ thuật và vỡ nợ pháp lý. Vỡ nợ kỹ thuật xảy ra khi công ty đi vay vi phạm các điều kiện của hợp đồng vay đã ký kết với chủ nợ, và đây là cơ sở dẫn đến vỡ nợ pháp lý.
Khi công ty thường xuyên chậm trả các khoản tiền vay, tiền gốc trái phiếu đúng hạn, hay còn gọi là các nghĩa vụ định kỳ, thì vỡ nợ pháp lý có thể xảy ra. Đặc biệt đối với các trái phiếu phát hành công chúng, khi một công ty không thực hiện LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 việc chi trả lãi hoặc gốc đúng hạn, và vấn đề này không được khắc phục trong khoảng thời gian, thường là 30 ngày, thì chứng khoán đó được xem như vỡ nợ. Thuật ngữ cuối cùng có liên quan đến kiệt quệ tài chính đó chính là phá sản (bankruptcy). Doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính ngày càng nghiêm trọng và kéo dài, những vấn đề này không được giải quyết có thể phải bước vào giai đoạn đệ đơn xin phá sản.
Phá sản là hành vi doanh nghiệp đệ đơn xin phá sản đến cơ quan chức năng và được cấp có thẩm quyền chấp nhận. Từ những thuật ngữ trình bày ở trên cho thấy kiệt quệ tài chính là một khái niệm có ý nghĩa khá rộng, thể hiện tình trạng khó khăn về tài chính của doanh nghiệp như: kinh doanh thu lỗ, mất khả năng chi trả, thanh khoản kém, vỡ nợ hay có thể dẫn đến hệ quả cuối cùng là phá sản. Đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu xoay quanh chủ đề kiệt quệ tài chính. Không phải tất cả các công ty lâm vào tình trạng kiệt quệ tài chính đều dẫn đến kết quả phá sản.
Do đó, việc lựa chọn chủ đề nghiên cứu liên quan đến kiệt quệ tài chính có ý nghĩa rộng, mở rộng phạm vi nghiên cứu và đặt ra nhiều vấn đề để thảo luận. Kiệt quệ tài chính tác động đến các chủ thể trong nền kinh tế. Thứ nhất, điều này tác động đến chính bản thân doanh nghiệp, cổ đông, trái chủ, và đối tác. Kiệt quệ tài chính làm gia tăng chi phí phát sinh từ các hành vi dịch chuyển rủi ro giữa cổ đông và người đại diện, tức là các nhà quản lý công ty.
Chính những mâu thuẫn về quyền lợi đã dẫn đến việc cổ đông và người đại diện thực hiện các “trò chơi” để đảm bảo quyền lợi cũng như giảm thiểu rủi ro cho chính mình, từ đó đưa ra những quyết định đầu tư và tài trợ sai lầm. Các hành vi dịch chuyển rủi ro này được nghiên cứu rộng rãi trong các tài liệu. Galai và Masulis (1976) và Jensen và Meckling (1976) cho thấy rằng cổ đông chiếm đoạt tài sản từ các trái chủ bằng cách dịch chuyển tài sản của công ty vào các dự án rủi ro cao. Điều này có thể chuyển hướng nguồn lực theo hướng tối đa hóa sự giàu có của các cổ đông và có thể gây thiệt hại cho trái chủ nếu dự án thất bại.