PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong suốt quá trình đổi mới toàn diện đất nước, nông nghiệp Việt Nam đã gặt hái được những thành tựu rõ rệt. Ngành nông nghiệp nước ta đã đạt được mức tăng trưởng nhanh chóng và ổn định ở tất cả các lĩnh vực; từ ngành trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và cả thuỷ sản. Tăng trưởng GDP năm 2019 đạt 7,02% trong đó khu vực nông, lâm, ngư nghiệp tăng 2,01%; đóng góp 4,6% vào tăng trưởng chung của nền kinh tế (Tổng cục thống kê, 2019).
Điều này đã góp phần giúp cho chúng ta từ thiếu ăn sang đủ ăn và thậm chí còn xuất khẩu được nhiều mặt hàng nông sản ra nước ngoài. Tuy nhiên, nền nông nghiệp nước ta vẫn còn gặp một số khó khăn từ khâu vệ sinh an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất nông nghiệp cho đến vấn đề chất lượng sản phẩm thấp khiến cho giá nông sản bán ra thấp hơn so với các quốc gia khác. Có nhiều nguyên nhân khiến cho những vấn đề này tồn tại trong đó không thể không nhắc tới việc tổ chức sản xuất; ở nước ta nông nghiệp chủ yếu sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, tự sản xuất của mỗi hộ gia đình nên thiếu sự liên kết trong sản xuất. Trong bối cảnh đó, mô hình Hợp tác xã (HTX) ra đời và được xem là một trong những mô hình mang lại hiệu quả để giúp cho ngành nông nghiệp thực hiện tái cơ cấu một cách hiệu quả.
Thực tế, chúng ta thấy rằng một doanh nghiệp không thể đi ký kết các hợp đồng với từng hộ nông dân nhỏ lẻ cũng như việc từng hộ gia đình liệu có cung ứng đủ số sản phẩm mà doanh nghiệp mong muốn vì vậy việc cần có HTX là một điều vô cùng cần thiết bởi đây là nơi có thể tập trung một khối lượng hàng hóa lớn để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Tỉnh Đồng Tháp là địa phương nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của Đồng bằng sông Cửu Long mà chủ lực đó chính là sản xuất lúa gạo, thuỷ sản. Ngành nông nghiệp của tỉnh Đồng Tháp đã đạt được những bước tiến mạnh mẽ góp phần phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH) của địa phương. Trong những năm qua, với việc xác định kinh tế tập thể đóng vai trò chủ chốt trong việc thực hiện tái cơ cấu lại ngành nông nghiệp, Đồng Tháp đã có những chiến lược, chính sách nhằm thúc đẩy 2 phát triển hoạt động của các hình thức kinh tế tập thể mà cụ thể nhất đó là mô hình HTX.
Những mô hình này hình thành trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp với nhiều bài học cần được đúc kết để nhân rộng và phát triển hoàn thiện hơn. Các HTX ra đời và phát triển thêm nhiều dịch vụ góp phần cho đời sống của bà con như: cung cấp nước sinh hoạt, vật tư nông nghiệp, tưới tiêu, bao tiêu đầu ra. góp phần giúp đỡ bà con nông dân trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp. Mô hình kinh tế hợp tác này với mong muốn giúp đỡ nông dân tạo dựng thói quen mua chung, bán chung; cùng mua vật tư nông nghiệp chính hãng của các công ty, cùng nhau liên kết sản xuất, cùng bán để tạo nên sức mạnh, tránh việc bị thương lái ép giá.
Tính đến cuối năm 2017, trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp đã có 129 Hợp tác xã Nông nghiệp (HTXNN), hoạt động ở rất nhiều lĩnh vực từ trồng trọt, chăn nuôi, thủy lợi, đến thủy sản. Vì vậy, nhằm tìm hiểu xem thực trạng hoạt động của mô hình HTX kiểu mới hiện nay như thế nào, tác động của nó đến sinh kế của người dân nông thôn tỉnh Đồng Tháp ra sao tác giả thực hiện đề tài: “Tác động của hợp tác xã kiểu mới đến sinh kế của người dân nông thôn tại xã Tân Bình, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp" làm luận văn cao học cho mình. Tổng quan nghiên cứu Nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn, đời sống của người dân nông thôn là một trong những nội dung quan trọng của khoa học xã hội, góp phần nâng cao nhận thức và cung cấp các luận cứ khoa học cho quá trình hoạch định chính sách phát triển nông thôn, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người nông dân. Trong quá trình nghiên cứu, tôi nhận thấy các công trình nghiên cứu liên quan đến các lĩnh vực phát triển kinh tế tập thể ở nông thôn, đời sống người dân ở nông thôn.
và các lĩnh vực được đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau. Nghiên cứu về kinh tế tập thể - hợp tác xã 2. Nghiên cứu về thực trạng hoạt động và phát triển hợp tác xã Phong trào hợp tác xã được hình thành và khởi xướng tại châu Âu từ cuối thế kỷ 18 gắn với cuộc cách mạng công nghiệp cũng như sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. Đến đầu thế kỷ 21, phong trào HTX phát triển đến 180 quốc gia và vùng lãnh 3 thổ với nhiều loại hình khác nhau.
Vì vậy, những nghiên cứu về quá trình hoạt động và phát triển của loại hình kinh tế tập thể này nhận được sự quan tâm của nhiều tổ chức như UNDESA and ICA (2009), dự án AID-COOP (2018) cho đến những nhà nghiên cứu: Phùng Quốc Chí (2010), Lê Bảo (2014), Hồ Hoàng Điệp (2016), Trần Thị Yến (2016), Đoàn Hải Yến (2017). Sự ra đời và phát triển của mô hình HTX với mong muốn xoá đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm mới cũng như đảm bảo an ninh lương thực cho người dân (UNDESA and ICA: 2009). Cụ thể nhóm chuyên gia của Liên Hợp Quốc và Liên minh Hợp tác xã quốc tế trong nghiên cứu Background Paper on Cooperatives (Tạm dịch: Báo cáo cơ bản về Hợp tác xã) đã chỉ ra những lợi ích mà HTX mang lại đối với quá trình phát triển KT - XH. Bên cạnh đó, trong bài báo cáo cũng đã có những chia sẻ về những kinh nghiệm xây dựng, củng cố và nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của các HTX trên thế giới và trong khu vực.
Từ đó đưa ra một số giải pháp, chính sách để cải thiện, thúc đẩy sự tác động mạnh mẽ của mô hình kinh tế hợp tác đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia cụ thể. Tương tự, “Sự phát triển của HTX và vai trò của HTX đối với an sinh xã hội” do Uỷ ban kinh tế của Quốc hội và UNDP tại Việt Nam chủ trì (2012) đã nêu lên quá trình hưng thịnh (1955-1986), suy thoái (1986-2003) và quá trình phục hưng (2004- 2010) của HTX. Bài viết đã nêu lên sự hình thành, phát triển cũng như sự bất ổn của các hợp tác xã như một tất yếu khách quan trong điều kiện kinh tế ở Việt Nam hiện nay. Từ đây, bài viết đã chỉ ra những xu hướng tác động mạnh mẽ đến quá trình hoạt động, phát triển của kinh tế hợp tác.
Xu hướng đầu tiên được đề cập đến đó chính là gắn kinh tế hộ gia đình với việc phát triển kinh tế tập thể; xu hướng thứ hai là gắn việc phát triển kinh tế HTX với phát triển cộng đồng nông thôn và xu hướng cuối cùng được đề cập đến trong bài viết này đó chính là doanh nghiệp hoá các hợp tác xã. Ngoài ra, trong bài báo cáo đã nêu ra ảnh hưởng của HTX đối với kinh tế của đất nước. Có thể nhắc tới như: với những đóng góp ít ỏi mà thành phần kinh tế HTX mang lại cho sự tăng trưởng chung của đất nước, những đóng góp này phần nào phản ánh sự tụt hậu, yếu kém của thành phần kinh tế này so với những thành 4 phần kinh tế khác. Bên cạnh đó, một trong những lý do khiến cho khu vực kinh tế hợp tác xã hoạt động kém hiệu quả đó là do quy mô đóng góp vốn của xã viên còn thấp nên nguồn vốn để đầu tư không có khiến cho tổ chức này hoạt động khó khăn.
Bên cạnh những sự yếu kém đối với nền kinh tế đất nước, HTX cũng có những sự thay đổi đáng kể về quy mô thành viên. Quy mô xã viên có xu hướng tăng lên bởi nhiều lý do khác nhau, trong đó yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến sự thay đổi đó chính là việc HTX tạo ra việc làm cho người dân, các thành viên khi tham gia vào tổ chức này còn được sử dụng các dịch vụ với những ưu đãi hơn so với ngoài thành viên. Tuy nhiên, hầu hết các HTX chưa phát huy được khả năng của mình để tối ưu hoá hiệu quả lợi ích kinh tế mà mô hình này mang lại cho xã viên; thu nhập trung bình mà HTX tạo ra cho người lao động còn ở mức thấp, chưa có đóng góp nhiều vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước nhưng thông qua những việc làm mà nó mang lại cho xã viên cũng đã tạo ra thu nhập, đảm bảo đời sống cho một bộ phận cư dân. Nghiên cứu cũng đã chỉ ra những tác động tích cực mà HTX mang lại cho người dân như thông qua mô hình kinh tế tập thể này giúp cho việc thực hiện một số hoạt động của các chính sách ưu đãi xã hội được diễn ra thuận tiện hơn và bằng nhiều hình thức khác nhau cũng như mang tính cộng đồng cao mà đôi khi các tổ chức khác khó khăn trong việc thực hiện.
HTX còn có nhiều tiềm năng, điều kiện để giúp cho người dân thuận lợi và dễ dàng tiếp cận dịch vụ bảo hiểm như bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội. Vấn đề thực trạng hoạt động và phát triển của HTX đã được khẳng định qua các nghiên cứu của Phùng Quốc Chí (2010), Chu Hoàng Hiệp (2015), Hồ Hoàng Điệp (2016). Các bài viết đã chỉ ra vai trò của HTX trên nền tảng phân tích thực trạng hoạt động của các mô hình này, để từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của chúng. Luận án tiến sĩ “Phát triển hợp tác xã trong quá trình công nghiệp hóa đến năm 2020 ở Việt Nam” của tác giả Phùng Quốc Chí từ việc trình bày thực trạng quá trình hình thành, phát triển của hợp tác xã.
Đồng thời, tìm hiểu, phân tích vị trí, vai trò của mô hình kinh tế tập thể này ở một số quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Qua đó, tác giả đã đưa ra một 5 số giải pháp, định hướng để phát triển HTX nhằm tạo sự đồng bộ, thúc đẩy hợp tác xã hoạt động hiệu quả hơn; góp phần to lớn vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.