Chương 1. Giới thiệu nghiên cứu. Chƣơng này trình bày lý do chọn đề tài nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, kết cấu luận văn. Chƣơng này trình bày cơ sở lý thuyết về biến đổi khí hậu và ảnh hƣởng của nó đối với sản xuất nông nghiệp; trình bày cơ sở 4 lý thuyết về khung sinh kế bền vững DFID và các nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Phương pháp nghiên cứu. Chƣơng này trình bày về chọn điểm nghiên cứu, phƣơng pháp thu thập số liệu, phƣơng pháp phân tích dữ liệu. Kết quả nghiên cứu. Chƣơng này trình bày về các nguồn vốn sinh kế của hộ nông dân tại huyện An Minh, đánh giá tác động biến đổi khí hậu đối với các nguồn vốn sinh kế, phân tích sự thích ứng biến đổi khí hậu của các hộ nông dân sản xuất theo mô hình tôm lúa tại huyện An Minh đối với các nguồn vốn sinh kế.
Kết luận và kiến nghị chính sách. Chƣơng này trình bày những kết quả chính đạt đƣợc trong đề tài, các hàm ý chính sách giúp hộ nông dân sản xuất theo mô hình tôm lúa cải thiện nguồn vốn sinh kế, nâng cao thu nhập; đồng thời chỉ ra các hạn chế của đề tài và hƣớng nghiên cứu tiếp theo. 5 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU (BĐKH) 2.
Khái niệm BĐKH trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tƣơng lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định tính bằng thập kỷ hay hàng triệu năm (Theo Bộ TNMT, 2009). Sự thay đổi có thể là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân bố các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình. Sự BĐKH có thể giới hạn trong một vùng nhất định hay có thể xuất hiện trên toàn địa cầu. Trong những năm gần đây, đặc biệt trong ngữ cảnh chính sách môi trƣờng, BĐKH thƣờng đề cập tới sự thay đổi khí hậu hiện nay.
Các biểu hiện của BĐKH là: (i) Sự nóng lên của bầu khí quyển và bề mặt trái đất; (ii) Sự thay đổi thành phần và chất lƣợng của khí quyển có hại đến môi trƣờng sinh thái và sự sống trên trái đất; (iii) Sự dâng cao của nƣớc biển do băng tan làm ngập úng các vùng đất thấp, trũng; (iv) Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng ngàn năm trên các vùng khác nhau của trái đất dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sống của các loại sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con ngƣời; (v) Sự thay đổi cƣờng độ hoạt động của quá trình hoàn lƣu khí quyển, chu trình tuần hoàn nƣớc trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hóa khác; (vi) Sự thay đổi năng suất sinh hoạt của các hệ sinh thái, chất lƣợng và thành phần của thủy quyển, sinh quyển và các địa tuyến. Theo Công ƣớc Khung của Liên Hiệp Quốc về BĐKH thì BĐKH là “những ảnh hƣởng có hại của BĐKH”, là những biến đổi trong môi trƣờng vật 6 lý hoặc sinh hoạt gây ra những ảnh hƣởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và đƣợc quản lý hoặc ảnh hƣởng đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con ngƣời. Theo định nghĩa của Tổ chức Liên chính phủ về BĐKH (IPCC) trong báo cáo lần thứ Tƣ (AR4) năm 2007, BĐKH là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể đƣợc nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, đƣợc duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn. Nhƣ vậy, BĐKH là bất kỳ sự thay đổi có hệ thống của các nhân tố khí hậu (nhiệt độ, áp suất hoặc gió) qua một thời gian dài do quá trình tự nhiên nhƣ thay đổi trong quá trình phát năng lƣợng của mặt trời, hoặc các thay đổi chậm chạp của trục quay quả đất, hoặc do các tác động từ hoạt động của con ngƣời.
Một số nguyên nhân biến đổi khí hậu Nguyên nhân chính làm BĐKH trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể khí nhà kính nhƣ sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác. Nguyên nhân của hiện tƣợng BĐKH có thể đƣợc lý giải nhƣ sau: Những nhân tố có thể hình thành khí hậu là thay đổi bức xạ khí quyển, bao gồm các quá trình nhƣ biến đổi bức xạ mặt trời, độ lệch quỹ đạo Trái đất, quá trình kiến tạo núi, kiến tạo trôi dạt lục địa và sự thay đổi nồng độ khí nhà kính. Trên thực tế, “nhiệt độ của Trái đất là cân bằng nếu nó phát ra trở lại vào không gian cùng một lƣợng năng lƣợng mà nó nhận đƣợc từ mặt trời (khoảng 340 watts cho mỗi mét vuông)” (Kolstad, 2000). Khoảng 100 w/m2 đƣợc phản xạ trở lại vào khí quyển do những đám mây và 240 w/m2 vào bề mặt trái đất.
Bầu không khí có nhiều thành phần, những chất khí có khả năng giữ nhiệt, đƣợc gọi là “khí nhà kính”. Khi tăng quá trình đốt cháy nhiên liệu hóa thạch, các luồng khí nhà kính vào khí quyển cũng phát triển, làm tăng hiệu ứng nhà kính cả nồng độ và cƣờng độ. Nhiều phản ứng khác nhau của môi trƣờng về BĐKH có thể tăng hoặc giảm 7 bớt các biến đổi ban đầu. Một số thành phần của hệ thống khí hậu, chẳng hạn nhƣ các đại dƣơng và chỏm băng, phản ứng chậm với biến đổi bức xạ mặt trời vì khối lƣợng lớn.
Do đó, hệ thống khí hậu có thể mất thời gian lâu hơn để phản ứng hoàn toàn với những biến đổi từ bên ngoài. Việc biến đổi khí hậu đã ảnh hƣởng rất lớn đến sinh kế của hộ gia đình. Hạn hán, xâm nhập mặn diễn ra thƣờng xuyên làm giảm diện tích sản xuất nông nghiệp, tình trạng mất mùa diễn ra thƣờng xuyên. Thời tiết thất thƣờng ảnh hƣởng đến lịch thời vụ.
Việc chọn con giống, cây trồng để thích ứng với điều kiện khí hậu mới cũng khó khăn, dẫn đến năng suất không cao. Biến đổi khí hậu ở đồng bằng Sông Cửu Long ĐBSCL là 1 trong 3 đồng bằng dễ bị tổn thƣơng nhất trên Trái đất do BĐKH, những diễn biến thời tiết ngày càng xấu đi và đang tác động nghiêm trọng lên khu vực này. BĐKH làm cho mực nƣớc biển dâng, hạn hán, lũ lụt, xảy ra với tần suất ngày càng lớn hơn. Những yếu tố đó làm gia tăng ngập lụt, xâm nhập mặn, lan tràn chua phèn… và dẫn tới những hệ lụy khác.
Qua phân tích chuỗi số liệu khí tƣợng và thủy văn ở các tỉnh vùng ĐBSCL cho thấy xu hƣớng gia tăng nhiệt độ trung bình năm khá rõ rệt. Trong khoảng thời gian từ 20 - 30 năm qua, nhiệt độ không khí đã tăng trung bình khoảng 0,5 - 0,7oC. Mặc dù nhiệt độ không khí (cả nhiệt độ cao nhất và thấp nhất) đều có xu thế gia tăng nhƣng số giờ nắng lại có khuynh hƣớng giảm đi. Số giờ nắng tháng 1 giảm đi trung bình từ 10 - 20 giờ, tháng 7 giảm đi khoảng 20 - 30 giờ.
Số liệu quan trắc thủy văn biển nhiều năm cho thấy, trong 50 năm qua, mực nƣớc biển đã gia tăng từ 25 - 30 cm. Hiện tƣợng El Nino và La Nina đã có ảnh hƣởng rõ rệt trong vài thập niên qua gây nên nhiều hiện tƣợng thiên tai tác động nặng nề đến cuộc sống và sản xuất của ngƣời dân. Thời gian qua, lụt lội xảy ra thƣờng xuyên hơn, đặc biệt trận lũ kéo dài trong năm 2000 là trận lũ lớn nhất trong vòng 70 năm qua. Lũ lớn liên tiếp xảy ra vào các năm 2001, 2002 và lũ lớn năm 2011 ảnh hƣởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống của ngƣời dân vùng nông thôn và hoạt động của các ngành kinh tế.
Lũ lụt gây ra trƣợt lở đất ở vùng ven biển dẫn tới việc biển tiến sâu vào 8 đất liền và gây ra hiện tƣợng nhiễm mặn ở vùng nội đồng. Địa hình của ĐBSCL tƣơng đối bằng phẳng, nếu nhƣ bão đổ bộ vào thì sẽ giống nhƣ đi trên biển, không gặp một trở ngại nào. Nếu gặp những cơn bão từ cấp 10 trở lên đi qua thì ĐBSCL sẽ phải đối mặt với những thảm họa khôn lƣờng. Trƣớc đây, ĐBSCL rất ít hứng chịu bão, thế nhƣng trong thập kỷ vừa qua, vào năm 1997 đã hứng chịu tác động của cơn bão Linda, đến năm 2006 thì bị đuôi bão Durian quét qua gây tổn thất nặng nề.
Cơn bão Durian này đạt tới cấp 14 và gió giật trên cấp 14 đã làm cho địa bàn tỉnh Tiền Giang gánh chịu những thiệt hại to lớn: 500 căn nhà bị tốc máy, 29 căn nhà bị sập, một tàu cá bị chìm và 7 ngƣời mất tích. Nhiều nghiên cứu gần đây nhận thấy mối tƣơng quan giữa việc bão ở Tây Thái Bình Dƣơng có xu hƣớng xảy ra thƣờng xuyên sau tháng 10 dƣơng lịch và đi về hƣớng xích đạo với nhiệt độ nƣớc biển bề mặt tăng, đƣờng đẳng trị nhiệt độ 20oC bị thay đổi và biến đổi dòng hải lƣu do BĐKH. Sự tàn phá mà cơn bão Durian đã gây ra sẽ còn lớn lao và khắc nghiệt hơn nhiều nếu giả thuyết ở thời điểm trong tƣơng lai khi mực nƣớc biển cao hơn so với hiện nay. SINH KẾ BỀN VỮNG 2.
Khái niệm sinh kế Sinh kế là một khái niệm rộng bao gồm các phƣơng tiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và văn hóa mà các cá nhân, hộ gia đình, hoặc nhóm xã hội sở hữu có thể tạo ra thu nhập hoặc có thể đƣợc sử dụng, trao đổi để đáp ứng nhu cầu của họ. Một sinh kế có thể đƣợc miêu tả nhƣ là sự tập hợp các nguồn lực và khả năng con ngƣời có đƣợc kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng nhƣ để đạt đƣợc các mục tiêu và ƣớc nguyện của họ (Bộ phát triển Quốc tế Anh). Theo khái niệm nêu trên thì chúng ta thấy sinh kế bao gồm toàn bộ những hoạt động của con ngƣời để đạt đƣợc mục tiêu dựa trên những nguồn lực sẵn có của con ngƣời nhƣ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các nguồn vốn, lao động, trình độ phát triển của khoa học công nghệ. Tiếp cận sinh kế là cách tƣ duy về mục tiêu, phạm vi và những ƣu tiên cho phát triển nhằm đẩy nhanh tiến độ xoá nghèo.