Chương 1. Giới thiệu nghiên cứu. Chương trình trình bày các nội dung như lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu,đối tượng, phạm vi nghiên cứu và kết cấu luận văn. Nội dung chương này trình bày các khái niệm về hộ, nông hộ, HTX, thu nhập, kinh tế nông hộ; các lý thuyết kinh tế học; các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài 123doc 4 nước liên quan đến đề tài.
Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu. Chương này trình bày khung phân tích, phương pháp chọn mẫu nghiên cứu, đề xuất mô hình nghiên cứu và mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu. Chương này trình bày các nội dung gồm giới thiệu địa bàn nghiên cứu, mô tả đặc điểm mẫu nghiên cứu, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tăng thu nhập của hộ gia đình tham gia HTX trên địa bàn huyện Tân Hiệp.
Kết luận và hàm ý chính sách. Chương này trình bày những kết quả quan trọng của đề tài, các hàm ý chính sách góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế của các mô hình HTX, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống của người dân. Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra những hạn chế của đề tài và tìm ra các hướng nghiên cứu tiếp theo. 123doc 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.
LÝ THUYẾT VỀ HỘ GIA ĐÌNH NÔNG THÔN 2. Hộ và hộ gia đình nông thôn Hộ có nhiều định nghĩa khác nhau bởi nhiều tác giả. Theo như giáo trình kinh tế phát triển nông thôn có trích dẫn thì tác giả Martin (1988) thì “hộ là đơn vị cơ bản liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác”. Hộ là một đơn vị tự nhiên tạo nguồn lao động (Harris, 1999).
Qua đó, ta có thể hiểu hộ là một nhóm người cùng ăn chung, sản xuất chung, có chung một nguồn thu nhập, có cùng huyết tộc hay không cùng huyết tộc, cùng sống chung hay không cùng sống chung một mái nhà. Hộ gia đình nông thôn là những hộ có phương tiện tạo ra thu nhập chủ yếu từ ruộng đất và nguồn lao động chính để sản xuất chủ yếu là từ gia đình. Hộ gia đình nông thôn luôn nằm trong hệ thống kinh tế rộng lớn nhưng về cơ bản được thì họ tham gia vào thị trường lao động chưa hoàn chỉnh. Hộ gia đình nông thôn còn được hiểu là những hộ nông dân tham gia sản xuất NN như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và tham gia các dịch vụ phi NN (Trần Văn Hiền, 2014).
Nông hộ được coi là các hộ nông dân sử dụng ruộng đất để tạo ra các sản phẩm từ cây trồng, vật nuôi. Họ sử dụng lao động chủ yếu là chính từ hộ gia đình. Sự tham gia sản xuất của nông hộ nằm trong hệ thống kinh tế với thị trường hoạt động hoàn chỉnh chưa cao (Theo Ellis, 1988). Thu nhập của hộ nông dân Thu nhập của hộ nông dân được coi như là một khoảng tiền hoặc của cải vật chất mà hộ nhận được từ một hoạt động nào đó trong một khoảng thời gian nhất định.
Thu nhập còn được hiểu là phần hộ nông dân thu được sau quá trình sản xuất từ nhiều nguồn thu khác nhau. Thu nhập của hộ nông dân cao hay thấp là còn phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của họ (Trần Văn Hiền, 2014). Có thể phân loại thu nhập của hộ nông dân thành 3 loại gồm thu nhập nông nghiệp, thu nhập phi nông nghiệp, thu nhập khác. Thu nhập từ NN: là khoảng thu có được từ các hoạt động sản xuất như chăn nuôi, trồng trọt và nuôi trồng thủy sản.
123doc 6 Thu nhập phi NN: là nguồn thu nhập có được từ các hoạt động ngành nghề như chế biến, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí….và các hoạt động khác. Ngoài ra, thu nhập này còn có được từ các hoạt động khác như buôn bán, thu gom. Thu nhập khác: là nguồn thu có được từ các hoạt động làm thuê hoặc có được thông qua trợ cấp xã hội hay từ các nguồn khác. Thu nhập của hộ nông dân đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao đời sống, nâng cao dân trí, quyết định đến quy mô sản xuất của nông hộ.
Nó là nguồn lực rất quan trọng để chi tiêu cho mọi nhu cầu cần thiết trong đời sống hàng ngày của mỗi nông hộ, mỗi người như lương thực thực phẩm, y tế, giáo dục. Mỗi thành viên sẽ có điều kiện tiếp cận tới các dịch vụ giáo dục, thông tin truyền thông. Với những hộ nông dân có thu nhập cao, các hộ sẽ có nhiều cơ hội lựa chọn các loại hình sản xuất nông nghiệp, cũng như qui mô sản xuất của họ. Ngoài ra, thu nhập là thước đo mức sống, khả năng sẵn sàng tiêu dùng của mỗi hộ nông dân đối với kinh tế thị trường.
Kinh tế nông hộ Theo Ellis (1988) thì kinh tế nông hộ có 3 yếu tố gồm đất đai, lao động và vốn làm cho nó khác với những người làm kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường. Kinh tế nông hộ được xem là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền kinh tế trong xã hội. Chủ hộ là người quyết định đối với các nguồn lực về đất đai, tư liệu sản xuất, vốn, lao động được góp chung, ở chung một mái nhà, ăn chung, chung một ngân sách và mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh. Sản xuất NN có đặc trưng là hiệu quả đầu tư thấp, đồng thời không thu hút đầu tư có tính rủi ro cao.
Kinh tế NN luôn tồn tại các đặc điểm như lao động của hộ nông dân chủ yếu dựa vào ruộng đất là chính. Giá trị sản xuất của hộ nông dân chưa chú nhiều đến lợi nhuận cao nhất mà chỉ hướng vào quan hệ qua lại. Do sự chuyển giao quyền thừa kế ruộng đất qua các thế hệ chính vì thế mà sự tập trung ruộng đất ít thuộc vào tay một cá nhân nào. Người nông dân chủ động về thời gian trong hoạt động sản xuất của họ theo lịch thời vụ.
Ngày nay với trình độ khoa học, kỹ thuật phát triển, người nông dân đã biết kết hợp được hoạt động NN và phi NN nhằm góp phần làm tăng thu nhập của hộ. Tuy nhiên, việc ứng dụng những tiến bộ khoa học, kỹ thuật của người dân vẫn còn hạn chế. Chưa liên kết nhau trong hoạt động sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra, sự lựa chọn mức độ đầu tư trên cơ sở mục tiêu sản suất (Trần Văn Hiền, 2014).
123doc 7 Từ những nhận định trên cho thấy, sản xuất của hộ nông dân được chuyển từ hình thức tự cấp sang sản xuất hàng hoá ở các mức độ khác nhau. Trong quá trình chuyển biến ấy hộ nông dân có sự thay đổi mục tiêu và phương thức hoạt động kinh doanh để thích ứng, phù hợp với thị trường. Mục tiêu tối đa hóa lợi ích thường gặp ở hộ nông dân hoàn toàn tự cấp, họ chỉ cần những sản phẩm cần thiết phụ vụ cho nhu cầu sinh hoạt của gia đình; hoạt động sản xuất của họ làm ra số lượng sản phẩm đến khi nào họ không còn đủ sức để sản xuất nữa. Tuy nhiên, thời gian nhàn rỗi của các thành viên trong hộ gia đình cũng được coi như một lợi ích, nó là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu của hộ và cơ cấu lao động của hộ gia đình.
Khi người nông dân bắt đầu có tiếp xúc với thị trường lao động, thị trường sản phẩm, thị trường vật tư thì họ đã bước lên một bước tiếp theo của quá trình phát triển, khi đó hộ nông dân được cho là kiểu “nửa tự cấp”. Hộ nông dân vẫn còn bị phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tự cấp và cách thức sản xuất của hộ vẫn được tự họ quyết định. Do đó, khi giá cả biến động thì phản ứng của hộ nông dân chưa thật sự mạnh mẽ. Thị trường nông thôn lúc này vẫn được coi là thị trường chưa hoàn chỉnh.
Từ các nhận định trên cho thấy, mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của hộ nông dân chủ yếu phụ thuộc vào hoạt động kinh doanh của hộ gia đình. Với hình thức sản xuất hàng hóa này, người dân sẽ phản ứng khi thị trường ruộng đất, thị trường vật tư, thị trường sản phẩm, thị trường lao động và thị trường vốn thay đổi. Hoạt động sản xuất của hộ nông dân kém hiệu quả nguyên nhân là do thiếu trình độ khoa học, kỹ thuật, thiếu thông tin thị trường, trình độ quản lý kém. Để nâng cao hiệu quả sản xuất đòi hỏi người dân cần khắc phục những hạn chế trên, bằng cách cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp, liên kết, hợp tác sản xuất, nâng cao trình độ, kỹ năng quản lý.
LÝ THUYẾT VỀ HỢP TÁC XÃ 2. Khái niệm hợp tác xã Khái niệm về HTX được pháp luật Việt Nam khẳng “Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo qui định của luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia HTX, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước” (Điều 1 Luật HTX năm 2003). 123doc 8 Từ khái niệm trên cho thấy HTX có những đặc trưng cụ thể như: Thứ nhất, HTX NN được xem là một tổ chức kinh tế, nó không được xem một tổ chức xã hội. Chính vì thế, khi tiến hành thành lập HTX lấy mục tiêu kinh tế làm mục tiêu chính.
Thứ hai, HTX là xã viên làm đơn vị kinh tế và cơ sở để thành lập, HTX lấy xã viên làm đối tượng để phục vụ. Thứ ba, HTX là một tổ chức có pháp nhân và mọi hoạt động của HTX phải tuân theo pháp luật hiện hành. Thứ tư, việc tham gia và rút khỏi HTX của các xã viên trên tinh thần tự nguyện. Mọi thành viên trong HTX đều có quyền dân chủ, bình đẳng.
Tùy vào điều kiện kinh tế của xã viên mà mức đóng góp cổ phần của họ có thể khác nhau, tuy nhiên khi biểu quyết các vấn đề thì giá trị phiếu ngang nhau. Thứ năm, hoạt động của các HTX phải theo chế độ tự quản và trong hoạt động kinh doanh HTX phải tự chịu trách nhiệm của mình. Thực hiện nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi trong phân phối lợi ích.