Đặt vấn đề - Tính cấp thiết của đề tài - Mục tiêu nghiên cứu - Câu hỏi nghiên cứu - Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu - Kết cấu bài nghiên cứu Trong đó, các chương được sắp xếp theo bố cục nhằm trả lời các câu hỏi sau: - Tỷ lệ kinh doanh ngoài lãi có ý nghĩa tác động tới lợi nhuận của NHTM VN hay không? - Các NHTM VN có nên phát triển các loại hình hoạt động kinh doanh ngoài lãi để để gia tăng HQHĐ hay không? Sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính là FEM và REM để có thể đánh giá tác động hoạt động kinh doanh ngoài lãi của ngân hàng cũng như đưa ra những kiến nghị phù hợp dưới góc nhìn của tác giả. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG NGOÀI LÃI, HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ LỢI NHUẬN CỦA NGÂN HÀNG 2. Cơ sở lý thuyết và các thực nghiệm nghiên cứu 2. NHTM và thu nhập của NHTM NHTM là một loại hình tổ chức tín dụng, mà nó có thể thực hiện tất cả các hoạt động NH và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận (theo luật các TCTD 47/2010/QH12, 2010).
Theo Getter (2016), NHTM là một tổ chức tài chính đang hoạt động với hai hinh thức kinh doanh chính đó là một liên bang nhận bảo hiểm cho tiền gửi của KH và trả lãi cho họ khi đến hạn; đồng thời thực hiện dịch vụ cấp vốn tín dụng, kiểm tra số dư tiền mặt, thanh toán bù trừ và chứng khoán bảo lãnh. Tương tự thế, các khái niệm khác về NHTM cho rằng, NHTM được quy định như các tổ chức được thành lập với hai chức năng là trả lãi tiền gửi và hoạt động cấp vốn tín dụng (Rajan, 1998). NHTM sử dụng tiền gửi của KH để phát hành các khoản vay và phụ vụ cho hoạt động thanh toán (Li & Zou, 2014). Và điều này đóng vai trò quan trọng trong việc lưu thông các nguồn lực tài chính đối với nền kinh tế hiện đại (Tariq et al.
Một định nghĩa khác về NHTM cho rằng, nó là một trung gian tài chính có thể giup cho những người có như cầu về tiền vốn đầu tư sử dụng hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi trên thị trường vào các hoạt động sản xuất kinh doanh và phục vụ mục đích cá nhân (Tuyishime et al. Nói tóm lại, NHTM trong đề tại được nghiên cứu dưới định nghĩa là một tổ chức tài chính, hoạt động dưới hình thức nhận tiền gửi, trả lãi cho người gửi tiền và cấp vốn tín dụng cho các thành phần kinh tế khác để tạo điều kiện phát triển cho nên kinh tế của một quốc gia. Hoạt động kinh doanh của NHTM là việc kinh doanh và cung ứng một số nghiệp vụ, ví dụ như: nhận tiền gửi, cung cấp tín dụng, cung cấp dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Từ hoạt động kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận, có thể chia nguồn thu nhập của NH thành hai phần: thu nhập lãi thuần và thu nhập ngoài lãi thuần.
9 Thu nhập từ lãi thuần là khoản thu từ lãi (từ hoạt động cho vay, từ khoản tiền gửi tại các tổ chức tín dụng và thu thu đầu tư chứng khoán nợ) trừ đi chi phí lãi. Thu nhập ngoài lãi thuần bao gồm lãi (lỗ) thuần từ hoạt động dịch vụ, từ hoạt động kinh doanh ngoại hối, từ mua bán chứng khoán kinh doanh, mua bán chứng khoán đầu tư, từ hoạt động khác và thu nhập từ góp vốn mua cổ phần. Kinh doanh ngoài lãi và lợi nhuận của NHTM Các hoạt động kinh doanh ngoài lãi hay có thể hiểu là đa dạng hóa thu nhập bao gồm các hoạt động dịch vụ, kinh doanh ngoại hối, mua bán chứng khoán kinh doanh, chứng khoán đầu tư, góp vốn cổ phần và các hoạt động khác. Việc mở rộng các loại hình kinh doanh ngoài lãi của các NH được thể hiện thông qua sự thay đổi của tỷ lệ thu nhập ngoài lãi trong phần tổng thu nhập của NH.
Bên cạnh việc tập trung vào hoạt động cấp vốn tín dụng, các NHTM cần mở rộng mạng lưới sản phẩm dịch vụ phi tín dụng. Như vậy, việc phát triển hoạt động kinh doanh ngoài lãi có nhiều phương pháp: cung cấp nhiều sản phẩm phi tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính tiền tệ của khách hàng nhằm mang lại lợi nhuận từ hoạt động dịch vụ, mở rộng hoạt động đầu tư (hoạt động kinh doanh ngoại hối, mua bán chứng khoán kinh doanh, chứng khoán đầu tư, góp vốn mua cổ phần) (Lý Hải Triều, 2016). Tỷ lệ TNNL càng cao thể hiện mức độ đa dạng dóa thu nhập của NHTM cụ thể đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ khác phi tín dụng và hiệu quả của các sản phẩm này càng lớn. Điều này thể hiện, việc mở rộng kinh doanh ngoài lãi cũng giup cho các NHTM có thể phân tán các rủi ro có thể có trong hoạt động kinh doanh giữa các sản phẩm dịch vụ của NH (Hoàng Ngọc Tiến và Võ Thị Hiền, 2010).
Trong quá trình phát triển các loại hình sản phẩm kinh doanh phi truyền thống, các NHTM có thể sử dụng hiệu quả và triệt để các cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như đội ngũ cán bộ của chính mình. Vì thế, các chi phí quản lí, chi phí hoạt động sẽ giảm, tặng lời nhuận cho các NH. Đồng thời, khi thực hiện mở rộng hoạt động kinh doanh này, các ngân hàng còn có thể phân tán lời và giảm thiểu các rủi ro, đặc biệt là rủi ro từ hoạt động tín dụng. Từ một quan điểm lý thuyết, việc quyết định thực hiện đa dạng hóa thu nhập hay phát triển các sản phẩm kinh doanh phi lãi 1 là điều cần thiết cho cả hai vấn đề: hiệu quả và quản lí rủi ro.
Theo Klein và Saidenberg (1997), trên góc nhìn kinh tế, việc phát triển một loạt các dịch vụ tài chính làm tăng hiệu quả của NH. Do đó, có thể nói, phát triển các loại hình dịch vụ mới góp phần tăng khả năng sinh lời. Khi các nhà nghiên cứu xem xét về rủi ro, họ thấy rằng, đa dạng hóa nguồn thu nhập là sự thay đổi từ lãi đến phi lãi, nên giảm tổng rủi ro. Theo Odesanmi và Wolfe (2007), tăng tỷ lệ TNNL giúp cho ngân hàng có nguồn thu nhập ổn định hơn, từ đây giúp cải thiện hiệu quả kinh doanh và điều chỉnh rủi ro.
Việc gia tăng TNNL sẽ làm tăng hiệu quả hoạt động của các NH, đặc biệt là đối với các NH lớn thì sự tác động này càng thể hiện rõ ràng và cụ thể hơn (Chiorazzo và cộng sự, 2008; Baele và cộng sự, 2007). Cũng nghiên cứu về vấn đề này, theo Deyoung và Rice (2004), với nghiên cứu về mối quan hệ giữa TNNL và hiệu quả tài chính của các NHTM tại Mỹ, có sự rút kết rằng, tỷ lệ TNNL có tác động cùng chiều đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE). Việc phát triển các sản phẩm trong quá trình kinh doanh của NHTM cũng chỉ hướng tới mục đích là tối đa hóa lợi nhuận. Để đạt được mức thu lợi nhuận cao nhất thì vấn đề chủ yếu ở đây là quản lý thật tốt các khoản mục tài sản bên Có (Ngọc Anh, 2016).
Lợi nhuận của NHTM được tính theo công thức sau: Lợi nhuận trước thuế = Tổng thu nhập – Tổng chi phí Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận trước thuế – Thuế thu nhập doanh nghiệp Nhìn chung, khi nguồn thu nhập được mở rộng, NH có thể tối đa hóa lợi nhuận qua việc sử dụng triệt để, có hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật và đội ngũ cán bộ của mỗi NH; do vậy, giảm chi phí quản lý, chi phí hoạt động. Hiệu quả hoạt động của NHTM Có nhiều quan điểm khác nhau về định nghĩa cũng như cách ước lượng về HQHĐ của NHTM: - Theo Antonio, Ludger và Vito (2006), hiệu quả hoạt động được xem như phép so sánh giữa đầu vào và đầu ra hay giữa lợi nhuận và chi phí. Với cùng một mức đầu vào được nhất định, hoạt động nào có thể tạo ra nhiều đầu ra hơn sẽ là hoạt động có hiệu quả cao hơn”. Hoặc là theo Từ điển Toán kinh tế, Thống kê, kinh tế 1 lượng Anh – Việt (PGS.TS Nguyễn Khắc Minh, 2004), hiệu quả được xem là mức độ đạt được mà các doanh nghiệp hoặc các ngân hàng hoàn thành việc thực hiện phân bổ các đầu vào có thể sử dụng và các đầu ra mà họ sản xuất, đáp ứng mục tiêu được lập ra.
- NHTM là một trung gian tài chính đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường, luôn có hoạt động điều chuyển nguồn vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu (Peter S. Rose, 2014), và trong việc kinh doanh, hoạt động của NH phải luôn có sự kết hợp giữa hai yếu tố là tối đa hoá lợi nhuận nhưng trong mức rủi ro cho phép – mức rủi ro NHTM có thể chấp nhận được. - Hiệu quả thể hiện sự tương quan giữa các biến đầu ra thu được so với các biến đầu vào, biến đã được sử dụng để tạo ra những đầu ra đó: trong đó, hiệu quả chi phí hay hiệu quả kinh tế bao gồm hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ. Hiệu quả kỹ thuật là chỉ số thể hiện khả năng sản xuất tối đa của đơn vị với đầu vào được cho trước, còn hiệu quả phân bổ được dùng để phản ánh khả năng tối ưu hoá các yếu tố đầu vào khi đã biết giá cả của chúng.
Do vậy, hiệu quả còn có thể nói cách khác là những lợi ích mang lại từ các hoạt động cụ thể dưới hình thức tối ưu hoá đầu vào và tối đa hoá đầu ra. - Có thể hiểu, HQHĐ của một NHTM như là khả năng tạo ra lợi nhuận của NHTM đó trong điều kiện hạn chế rủi ro và các hoạt động của NH vẫn đúng theo mục tiêu đã định. Theo Chang & cộng sự (2010) cũng nêu rằng hiệu quả cũng phản ánh năng lực quản lí, sử dụng nguồn lực và kiểm soát chi phí để tạo đầu ra. - NHTM vận dụng các nguồn lực (lao động, cơ sở vật chất, nguồn vốn) để thực hiện các hoạt động kinh doanh chính: cấp tín dụng, nhận tiền gửi, đầu tư… để tạo lợi nhuận cho chính NHTM.
Đây cũng được xem là một cơ sở để xác định sự hiệu quả và các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của NHTM.