Chương 1. Tác giả giới thiệu về phần tổng quan của đề tài nghiên cứu, đề cập đến tình hình thực tiễn về chuyển giao tri thức và những yếu tố để tác giả quyết định thực hiện đề tài này. Tiếp theo là sự trình bày về mục tiêu nghiên cứu của luận văn, phạm vi nghiên cứu và phương pháp mà tác giả chọn lựa để thực hiện. Phần cuối cùng trong chương này là sự trình bày về ý nghĩa của nghiên cứu đối với thực tiễn cho các nhà quản lý giáo dục và các giảng viên trong hoạt động đào thạc sĩ tại các trường đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Chương này tác giả trình bày về cơ sở lý thuyết theo quan điểm và sự tìm hiểu, tham khảo tài liệu của tác giả về chủ đề nghiên cứu. Tiếp theo là sự đề xuất của tác giả về mô hình nghiên cứu mà mình thực hiện. Chương này trình bày về thiết kế nghiên cứu và qui trình nghiên cứu của tác giả, tiếp theo là sự mô tả về quá trình xây dựng thang đo của tác giả, dựa trên các thang đo gốc của các nghiên cứu trước. Trình bày về phần phân tích kết quả khảo sát trên bộ dữ liệu mà tác giả thu thập được.
Trong chương này tác giả cũng xây dựng lại mô hình cuối cùng cho nghiên cứu, cũng như phân tích cụ thể về các giả thuyết đã đề xuất cho nghiên cứu. Chương này trình bày kết luận của tác giả về toàn bộ nghiên cứu, thông qua việc tóm lại nội dung nghiên cứu và các kết quả đạt được của nghiên cứu. Tác giả cũng có những đề xuất các đóng góp của nghiên cứu về mặt quản lý và giảng 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Và cuối cùng là sự trình bày về hạn chế của luận văn và những đề xuất cho nghiên cứu tiếp theo.
Tóm tắt: Chương này đề cập đến các vấn đề nghiên cứu sau: (1) Lý do chọn đề tài nghiên cứu, (2) Mục tiêu nghiên cứu, (3) Phạm vi và phương pháp nghiên cứu, (4) Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu, (5) Kết cấu của đề tài. Chương tiếp theo tác giả trình bày về cơ sơ lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề nghị. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. GIỚI THIỆU Chương này trình bày những nội dung cơ bản của các lý thuyết có liên quan để làm cơ sở nền tảng cho nghiên cứu.
Dựa trên nền tảng đó, các thuật ngữ, khái niệm được định nghĩa, làm sáng tỏ để phục vụ cho các chương sau. Mô hình nghiên cứu đề xuất cùng với các giả thuyết nghiên cứu cũng được trình bày trong chương này. Phần lớn các tài liệu hiện có trong lĩnh vực quản trị tri thức đã tìm cách xem xét những khía cạnh khác nhau của tổ chức và quản lý tri thức trong các điều kiện khác nhau và trong những ngữ cảnh khác nhau (ví dụ như tổ chức, cá nhân). Những khía cạnh khác nhau phân chia quản trị tri thức thành các lĩnh vực khác nhau.
Nó bắt đầu từ việc tạo ra tri thức (Nonaka, 1994), nắm bắt tri thức (Kamara & ctg 2003; Shapiro 1999), chia sẻ tri thức (Dyer & Nobeoka 2000; Hansen 2002), chuyển giao tri thức (Argote & Ingram 2000; Chen 2011; Tsai 2001) đến ứng dụng tri thức (Becerra-Fernandez 2007) và thậm chí cả việc học tập và đổi mới của tổ chức (Lam 1998; Vakola & Rezgui 2000). Giáo dục bậc đại học và cao học góp phần tạo ra sự giàu có và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế (Richard Li-Hua 2007). Trong đó chuyển giao tri thức có thể trở thành một chất xúc tác mạnh mẽ để đạt được các mục tiêu này (Champika & ctg 2009). Chuyển giao tri thức trong giáo dục có thể diễn ra dưới nhiều hình thức như tại các dự án liên doanh (Richard Li-Hua 2000), các chương trình liên kết đào tạo (Richard Li-Hua 2007), kêu gọi các trường đại học nước ngoài vào hoạt động trong nước và kết nối những trường đại học đó với nền kinh tế địa phương (Dickson 2009).
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TRI THỨC VÀ CHUYỂN GIAO TRI THỨC 2. Tri thức Tri thức (knowledge) là niềm tin mà người ta cho là đúng và khi làm theo niềm tin đó sẽ giúp gia tăng hiệu quả công việc của cá nhân (Alavi & Leidner 2001). Theo Champika Liyanage & ctg (2009): Tri thức có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau, có thể xem tri thức là: một trạng thái của nhận thức, một đối tượng, một quy trình, một điều kiện truy cập thông tin hay một khả năng của con người (Alavi & Leidner 2001).
Tri thức được thể hiện chủ yếu ở hai dạng: tri thức ẩn và tri thức hiện. Cách phân loại này dựa trên mức độ phức tạp của tri thức (Koulopoulos & Frappaolo 1999). - Tri thức ẩn là ''Tri thức không thể phát biểu, không trực quan và không thể biểu đạt thông qua ngôn ngữ'' (Polanyi 1962). Đây là tri thức nằm trong bộ não con người và không thể dễ dàng nắm bắt hoặc mã hóa (Wong & Radcliffe 2000; Nonaka & Takeuchi 1991; McAdam & McCreedy 1999).
Tri thức ẩn rất khó hoặc thậm chí không thể nắm bắt và truyền tải (Koulopoulos & Frappaolo 1999; Pederson 2003). Tuy nhiên, tri thức ẩn mang lại nhiều giá trị cho tổ chức hơn. - Tri thức hiện là “Tri thức có thể được nêu ra bằng ngôn ngữ chính thức và dễ dàng được truyền tải giữa các cá nhân” (Koulopoulos & Frappaolo 1999). Theo Pederson (2003) tri thức có công dụng như một cuốn sách.
Tri thức chủ yếu là những thông tin được ghi chép trong các văn bản hoặc trên hệ thống máy tính. Vì vậy, không giống như tri thức ẩn, tri thức hiện có thể được thể hiện và hệ thống hóa một cách dễ dàng. Alavi & Leidner (2001) cho rằng một số nhà nghiên cứu cố gắng để làm nổi bật tri thức ẩn có giá trị hơn tri thức hiện hoặc ngược lại. Cho dù biết được tri thức ẩn hay tri thức hiện có giá trị hơn thì tri thức cũng chưa được hiểu một cách đầy đủ.
Bởi vì cả hai thuộc tính ẩn và hiện đều không phải là những trạng thái riêng biệt của tri thức, mà chúng phụ thuộc lẫn nhau và làm gia tăng chất lượng của tri thức: tri thức ẩn tạo nên sự cần thiết cho việc phát triển và 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com làm rõ tri thức hiện (Polanyi 1975). Mối liên hệ chặt chẽ của tri thức ẩn và tri thức hiện cho thấy chỉ những cá nhân với mức độ chia sẻ tri thức cần thiết mới có thể trao đổi tri thức một cách thực sự. Hiểu biết các khái niệm của tri thức là rất quan trọng bởi vì sự phát triển lý thuyết trong lĩnh vực quản trị tri thức chịu ảnh hưởng bởi sự phân biệt giữa các loại tri thức khác nhau (Alavi & Leidner 2001). Một số quan điểm thường gặp thì coi dữ liệu là các số liệu và dữ kiện, thông tin là dữ liệu đã được xử lý, và tri thức là thông tin đã được chứng thực (Dretske 1981; Vance 1997; Alavi & Leidner 2001).
Davenport & Prusak (1998) giải thích tri thức như là sự pha trộn của kinh nghiệm, các giá trị và thông tin theo ngữ cảnh. Tri thức chủ yếu bắt nguồn từ bộ não của một cá nhân, đó là thông tin được giải thích bởi các cá nhân và được áp dụng cho những mục đích cụ thể. Tri thức khác với sự tinh thông ở chỗ: Sự tinh thông là một khái niệm đặc biệt, nó là tri thức và sự hiểu biết chuyên sâu trong một lĩnh vực nào đó ở mức vượt xa so với mức bình thường. Sự tinh thông có được thông qua đào tạo, tích lũy kinh nghiệm và được xây dựng từ đầu trong một thời gian dài bởi một cá nhân.
Sự tinh thông nằm ở bên trong bản thân con người đó (Bender & Fish 2000).1: Hệ thống thứ bậc của tri thức Nguồn: Bender & Fish (2000) 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Chuyển giao tri thức Chuyển giao tri thức (Knowledge transfer - KT) đóng vai trò quan trọng trong đào tạo. Mặc dù công nghệ hiện nay giúp cho học viên tiếp cận các kết quả nghiên cứu một cách dễ dàng hơn thì vẫn tồn tại một khoảng cách lớn giữa những người tạo ra tri thức và những người sử dụng tri thức (Huberman 1990; Love 1985; Willmott 1994). Anderson (1992) cho rằng những nguyên nhân chủ yếu tạo nên khoảng cách này là do các nhà nghiên cứu thường dành sự quan tâm, thời gian và sự nỗ lực để tạo ra những tri thức mới mà ít quan tâm đến việc phổ biến kết quả nghiên cứu của họ đến với người sử dụng.
Điều này tạo ra một rào cản lớn trong việc phổ biến các kết quả nghiên cứu đến với nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách và các học viên. Lý do tạo nên khoảng cách này là do học viên thường có sự phản ứng với việc áp dụng tri thức mới (Kirst 2000); năng lực và kỹ năng của họ thường hạn chế (Hemsley-Brown & Oplatka 2005) là một số trở ngại chính trong việc hấp thụ và ứng dụng kết quả nghiên cứu. Cho dù lý do bắt nguồn từ phía nhà nghiên cứu hay từ phía người sử dụng, đa số đều công nhận chuyển giao tri thức giữa những nhà nghiên cứu và học viên cần phải được khuyến khích và thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa vì đó là cách duy nhất làm giảm khoảng cách giữa nhà nghiên cứu và người sử dụng tri thức (Becheikh & ctg 2010). Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về chuyển giao tri thức, một số nhà nghiên cứu đánh đồng việc chia sẻ tri thức với chuyển giao tri thức (Huber 1991).
Sau này, nhiều nghiên cứu về chuyển giao tri thức đã đề xuất một mô hình tổng quát là “nguồn chuyển giao và bên tiếp nhận”. Theo Champika Liyanage & ctg (2009), chuyển giao tri thức được xem xét dưới các góc độ khác nhau: chuyển giao tri thức theo quan điểm lý thuyết, chuyển giao tri thức theo quan điểm là hoạt động của sự giao tiếp, chuyển giao tri thức là sự dịch nghĩa.(2002) nêu ví dụ chuyển giao tri thức là sự dịch nghĩa: thay vì nói "đây là điều mà tôi biết” thì lại nói: "đây là hiểu biết của tôi và tri thức đó có nghĩa với bạn”. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Định nghĩa chuyển giao tri thức Theo Ko & ctg (2005) chuyển giao tri thức là sự truyền đạt tri thức từ phía nguồn (chuyển giao) và được học hỏi, áp dụng bởi bên tiếp nhận.